Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8267-5:2009 là một phần quan trọng trong bộ tiêu chuẩn Việt Nam về silicon xảm khe dùng cho kết cấu xây dựng. Văn bản này quy định chi tiết phương pháp thử nghiệm để xác định thời gian không dính bề mặt của silicon, một chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng quyết định đến chất lượng thi công và độ bền của vật liệu trong thực tế.
- Tổng quan về Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8267-5:2009
- Tên tiêu chuẩn: TCVN 8267-5:2009 - Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng - Phương pháp thử - Phần 5: Xác định thời gian không dính bề mặt.
- Mục đích ban hành: Thiết lập quy trình thử nghiệm chuẩn hóa nhằm đánh giá khoảng thời gian cần thiết để bề mặt lớp silicon xảm khe không còn bám dính khi tiếp xúc với vật liệu khác, giúp kiểm soát chất lượng sản phẩm và định hướng thời gian thi công phù hợp.
- Phạm vi áp dụng (Điều 1)
- Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định thời gian không dính bề mặt của các loại chất xảm khe gốc silicon (silicon sealant) một thành phần hoặc nhiều thành phần, sử dụng cho các kết cấu xây dựng.
- Phương pháp này áp dụng cho các phòng thử nghiệm chuyên ngành, các đơn vị sản xuất, nhập khẩu và thi công nhằm đánh giá tính chất lưu hóa bề mặt của vật liệu.
- Tài liệu viện dẫn (Điều 2)
- Để áp dụng tiêu chuẩn này một cách chính xác, cần viện dẫn đến các tài liệu liên quan, đặc biệt là TCVN 8267-1:2009 về các quy định chung và chuẩn bị mẫu thử.
- Các tài liệu viện dẫn nêu trên là nền tảng để đảm bảo tính đồng bộ về điều kiện môi trường, dụng cụ và phương pháp chuẩn bị mẫu trước khi tiến hành thử nghiệm xác định thời gian không dính bề mặt.
- Nguyên tắc thử nghiệm (Điều 3)
- Nguyên tắc của phương pháp dựa trên việc phủ một màng chất dẻo (thường là màng polyethylene) lên bề mặt mẫu thử silicon tại các khoảng thời gian xác định sau khi mẫu được tạo hình.
- Màng chất dẻo được ép lên bề mặt silicon dưới một lực ép tiêu chuẩn trong một khoảng thời gian quy định.
- Thời gian không dính bề mặt được xác định là khoảng thời gian trôi qua tính từ thời điểm vuốt phẳng bề mặt mẫu thử cho đến khi màng chất dẻo được bóc ra mà không còn bất kỳ vết silicon nào bám dính trên đó.
- Thiết bị và dụng cụ thử nghiệm (Điều 4)
- Khuôn tạo mẫu: Thường được làm bằng kim loại hoặc vật liệu không gỉ, có kích thước tiêu chuẩn để định hình mẫu thử silicon có độ dày đồng đều.
- Màng polyethylene: Màng chất dẻo mỏng, trong suốt, có bề mặt nhẵn phẳng, không phản ứng hóa học với silicon để làm vật liệu tiếp xúc thử nghiệm dính.
- Quả cân tiêu chuẩn: Dùng để tạo ra một lực ép xác định (thường là lực ép tương đương với quả cân có khối lượng quy định) lên màng polyethylene khi đặt lên bề mặt mẫu.
- Dao gạt phẳng: Dụng cụ chuyên dụng để gạt và làm phẳng bề mặt silicon sau khi bơm vào khuôn, đảm bảo bề mặt thử nghiệm đồng nhất.
- Thiết bị đo thời gian: Đồng hồ bấm giờ hoặc thiết bị đo thời gian có độ chính xác cao để theo dõi các khoảng thời gian thử nghiệm.
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 8267-5 : 2009
SILICON XẢM KHE CHO KẾT CẤU XÂY DỰNG - PHƯƠNG PHÁP THỬ- PHẦN 5: XÁC ĐỊNH THỜI GIAN KHÔNG DÍNH BỀ MẶT
Structural silicone sealants - Test methods - Part 5: Determination of tack-free time
1. Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định thời gian không dính bề mặt của silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng loại một và nhiều thành phần đóng rắn hóa học.
2. Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn sau là cần thiết khi áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm các bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).
TCVN 8267-1 : 2009, Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng - Phần 1: Xác định độ chảy.
3. Nguyên tắc
Xác định cường độ bám dính của mẫu thử kéo được tạo thành bằng cách cho mẫu thử vào khuôn hình chữ nhật kích thước (L x W x H = 50,8 x 9,5 x 12,7) mm được ghép từ hai tấm kính nổi kích thước (6,3 x 25,4 x 76,2) mm có chèn ở dưới và hai đầu bằng miếng đệm polytetrafluoretylen (teflon). Mẫu được ổn định ở các điều kiện quy định, sau đó được kéo với tốc độ 12,7 mm/min.
4. Lấy mẫu
Theo Điều 5 của TCVN 8267-1 : 2009.
5. Thiết bị và dụng cụ
- Quả cân hình chữ nhật, kích thước (41 x 19) mm, chiều dày được thiết kế sao cho quả cân có khối lượng 30 g.
- Sáu mảnh polyetylen trong suốt loại khối lượng riêng thấp, kích thước (dài x rộng x dày) = (127 x 25 x 0,15) mm.
- Sáu tấm phẳng hình chữ nhật bằng vật liệu đặc, ví dụ như thép tráng kẽm hay nhôm kích thước (dài x rộng) = (152 x 76) mm.
- Khuôn hình chữ nhật bằng đồng, thép hoặc vật liệu tương đương khác, chiều dày 3,2 mm, kích thước trong (95 x 25,4) mm, kích thước ngoài (120 x 31) mm.
- Thước kim loại thẳng.
- Cân, độ chính xác 0,1 g.
- Đồng hồ, có thể đo được phút và giờ.
6. Cách tiến hành
6.1. Tạo tấm mẫu thử
- Ổn định mẫu thử (hoặc các thành phần của mẫu thử) còn nguyên trong bao kín tối thiểu 24 h ở điều kiện chuẩn. Đối với mẫu thử một thành phần cần khoảng 250 g trước khi tiến hành thử; đối với mẫu thử nhiều thành phần cần khoảng 250 g thành phần chính với một lượng chất đóng rắn tương ứng theo quy định của nhà sản xuất.
- Lau sạch khuôn và tấm phẳng bằng metyletylketon hoặc xylen hay dung môi tương đương.
- Mỗi mẫu thử cần ít nhất hai tấm phẳng, quá trình tạo tấm mẫu thử như sau: Đặt khuôn lên trên bề mặt tấm phẳng căn chỉnh đồng tâm, sau đó đổ mẫu thử (hoặc hỗn hợp mẫu thử đã trộn đều trong vòng 5 min thành một hỗn hợp đồng nhất) từ từ vào khuôn sao cho tránh tạo bọt khí. Dùng thước kim loại tạo phẳng bề mặt ngang bằng với mép trên của cạnh khuôn để tạo chiều dày đồng đều giữa các tấm mẫu thử. Tiếp tục tiến hành tương tự để tạo các tấm mẫu thử sau.
6.2. Nếu thời gian không dính bề mặt chưa biết thì sẽ tiến hành thử trước với một tấm mẫu thử như sau: dùng mành polyetylen quấn xung quanh đầu ngón tay rồi chạm nhẹ lên bề mặt tấm mẫu thử, cứ một khoảng thời gian xác định theo Bảng 1 thì chạm lên bề mặt tấm mẫu thử tương ứng ở các vị trí khác nhau. Sau khi chạm lên bề mặt tấm mẫu thử, ngay lập tức nhấc lên và kiểm tra xem mảnh polyetylen có kéo theo mẫu thử lên hay không. Nếu mảnh polyetylen không kéo theo mẫu thử thì quá trình kiểm tra với tấm mẫu thử trước đã được hoàn thành.
Bảng 1 - Tóm tắt khoảng thời gian thử nghiệm
|
| 10 min đầu, | 10 min tiếp theo, | 160 min tiếp theo, |
| Tổng thời gian thử nghiệm | 10 min | 20 min | 3 h |
| CHÚ THÍCH: Thông tin về thời gian không dính bề mặt có thể được cung cấp bởi nhà sản xuất hoặc in trực tiếp trên bao bì sản phẩm sẽ giúp cho việc kiểm tra nhanh hơn. | |||
6.3. Sau khi tiến hành theo 6.2 sẽ sơ bộ xác định được khoảng thời gian không dính bề mặt, lúc đó mới bắt đầu thử chính thức. Trải mảnh polyetylen lên một nửa bề mặt mẫu thử ở thời gian thích hợp và đặt từ từ quả cân lên trên mảnh polyetylen rồi để yên trong 30 s. Ngay sau đó, nhấc quả cân ra khỏi mảnh polyetylen rồi dùng ngón tay cái cùng ngón trỏ kéo từ từ mảnh polyetylen lên theo góc kéo 90° so với bề mặt ngang tấm mẫu thử với tốc độ không đổi là 25 mm /15 s (Hình 1).
6.4. Nếu mảnh polyetylen không hoặc hầu như không dính silicon thì lặp lại phép thử theo 6.3 trên tấm mẫu chưa thử.

Hình 1 - Các giai đoạn của quá trình kiểm tra thời gian không dính bề mặt
6.5. Nếu mảnh polyetylen cũng không dính silicon thì ghi lại thời gian thử nghiệm từ thời điểm mẫu thử trong khuôn được gạt phẳng cho đến khi kéo mảnh polyetylen lên.
6.6. Khi thử theo 6.3 hoặc 6.4, nếu mảnh polyetylen còn dính silicon thì chờ thêm một nửa khoảng thời gian quy định giữa hai lần kéo tấm polyetylen lên thuộc khoảng thời gian thử nghiệm rồi lặp lại phép thử từ 6.3 trên các tấm mẫu chưa thử cho đến khi mảnh polyetylen không dính silicon khi thử theo 6.4.
6.7. Nếu thời gian không dính bề mặt gần đúng đã biết trước thì chọn thời gian thử nghiệm phù hợp với thời gian không dính bề mặt định trước, rút ngắn đi một khoảng thời gian bằng khoảng thời gian quy định giữa hai lần kéo tấm polyetylen lên thuộc khoảng thời gian thử nghiệm để bắt đầu tiến hành thử sơ bộ từ đây. Phép thử sơ bộ và chính thức được tiến hành như mô tả ở trên.
6.8. Khi thử theo 6.7, nếu mảnh polyetylen không dính silicon thì lại bắt đầu tiến hành thử sơ bộ trên tấm mẫu chưa thử ở khoảng thời gian thích hợp ngắn hơn.
7. Tính kết quả
Thời gian không dính bề mặt của mẫu thử là khoảng thời gian được xác định theo 6.5, tính theo phút, chính xác đến 1 min, 2 min hoặc 5 min tương ứng với khoảng thời gian đã cho giữa hai lần kéo tấm polyetylen lên.
8. Báo cáo thử nghiệm
Theo Điều 9 của TCVN 8267-1 : 2009.
- 1 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8267-4:2009 Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng - Phương pháp thử - Phần 4: Xác định ảnh hưởng của lão hóa nhiệt đến sự tổn hao khối lượng, tạo vết nứt và phấn hoa
- 2 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN8267-1:2009 về Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng – Phương pháp thử - Phần 1: Xác định độ chảy
- 3 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN8267-2:2009 về Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng – Phương pháp thử - Phần 2: Xác định khả năng đùn chảy
- 4 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN8267-3:2009 về Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng – Phương pháp thử - Phần 3: Xác định độ cứng Shore A
- 1 Quyết định 3099/QĐ-BKHCN năm 2009 công bố Tiêu chuẩn quốc gia do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 149:1978 về bảo vệ kết cấu xây dựng khỏi bị ăn mòn
- 3 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9349:2012 về Lớp phủ mặt kết cấu xây dựng - Phương pháp kéo đứt thử độ bám dính bền
- 4 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9379:2012 về Kết cấu xây dựng và nền - Nguyên tắc cơ bản về tính toán
- 5 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8267-4:2009 Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng - Phương pháp thử - Phần 4: Xác định ảnh hưởng của lão hóa nhiệt đến sự tổn hao khối lượng, tạo vết nứt và phấn hoa
- 6 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN8267-1:2009 về Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng – Phương pháp thử - Phần 1: Xác định độ chảy
- 7 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN8267-2:2009 về Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng – Phương pháp thử - Phần 2: Xác định khả năng đùn chảy
- 8 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN8267-3:2009 về Silicon xảm khe cho kết cấu xây dựng – Phương pháp thử - Phần 3: Xác định độ cứng Shore A