Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2091:1993 là văn bản kỹ thuật quan trọng quy định phương pháp xác định độ mịn của sơn, vecni và các sản phẩm liên quan. Việc xác định độ mịn đóng vai trò quyết định trong việc đánh giá chất lượng phân tán của bột màu và chất độn trong chất liên kết, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến độ bóng, độ phủ và tính chất cơ lý của màng sơn sau khi hoàn thiện. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết nội dung cốt lõi từ Điều 1 đến Điều 4 của tiêu chuẩn này.
- Điều 1: Phạm vi áp dụng
- Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định độ mịn của các loại sơn, vecni và các sản phẩm liên quan bằng cách sử dụng thước đo độ mịn thích hợp, được chia vạch bằng micromet (µm).
- Phương pháp này áp dụng đối với hầu hết các loại sơn và sản phẩm liên quan, ngoại trừ các sản phẩm có chứa bột màu dạng vảy hoặc các hạt thô có kích thước lớn hơn phạm vi đo của thước.
- Việc xác định độ mịn giúp kiểm soát quy trình sản xuất, đánh giá hiệu quả của thiết bị nghiền và đảm bảo tính đồng nhất của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.
- Điều 2: Tài liệu viện dẫn
- Để áp dụng tiêu chuẩn này một cách chính xác, cần kết hợp viện dẫn các tiêu chuẩn liên quan về phương pháp lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử.
- Các tài liệu viện dẫn bao gồm các tiêu chuẩn quốc gia về sơn và vecni hiện hành tại thời điểm áp dụng, đặc biệt là các quy định về lấy mẫu để đảm bảo mẫu thử có tính đại diện cao nhất cho lô sản phẩm.
- Trường hợp các tài liệu viện dẫn có sự thay đổi hoặc bổ sung, người sử dụng cần cập nhật theo các phiên bản mới nhất để đảm bảo tính đồng bộ và chính xác về mặt pháp lý cũng như kỹ thuật.
- Điều 3: Thiết bị và dụng cụ thử nghiệm
- Thước đo độ mịn (Grindometer): Là một khối thép phẳng, cứng, trên bề mặt có một hoặc hai rãnh có độ sâu giảm dần từ một giá trị cực đại (ví dụ: 100 µm, 50 µm hoặc 25 µm) về 0 ở một đầu. Thước phải được hiệu chuẩn định kỳ để đảm bảo độ chính xác của các vạch chia.
- Dao gạt (Scraper): Làm bằng thép không gỉ, có lưỡi gạt phẳng và sắc bén. Dao gạt được thiết kế để gạt phẳng mẫu sơn dọc theo rãnh của thước đo độ mịn với một lực và góc nghiêng không đổi.
- Yêu cầu bảo quản: Cả thước đo và dao gạt phải được làm sạch kỹ lưỡng bằng dung môi thích hợp trước và sau khi sử dụng, tránh va đập hoặc làm xước bề mặt làm việc của thiết bị.
- Điều 4: Lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử
- Mẫu thử phải được lấy theo đúng quy định của các tiêu chuẩn lấy mẫu hiện hành đối với sản phẩm sơn và vecni, đảm bảo mẫu không bị nhiễm tạp chất từ môi trường bên ngoài.
- Trước khi tiến hành thử nghiệm, mẫu sơn phải được khuấy trộn thật đều để đạt được trạng thái đồng nhất hoàn toàn, loại bỏ hiện tượng lắng cặn hoặc phân lớp trong quá trình lưu trữ.
- Nhiệt độ của mẫu thử và thiết bị đo phải được điều chỉnh về nhiệt độ phòng tiêu chuẩn (thường là 25 ± 2 độ C) để tránh sai số do sự thay đổi độ nhớt của sơn dưới ảnh hưởng của nhiệt độ.
Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định từ Điều 1 đến Điều 4 của TCVN 2091:1993 là bước đệm bắt buộc để thực hiện các thao tác đo lường tiếp theo một cách chính xác, hạn chế tối đa các sai số kỹ thuật trong quá trình đánh giá chất lượng sơn.
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM
TCVN 2091:1993
SƠN
Paints
Method for determination of finess of grind
Tiêu chuẩn này áp dụng cho các loại sơn.
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định độ mịn của sơn bằng thước đo độ mịn, được chia độ đến mm.
Tiêu chuẩn này giới thiệu bốn loại thước đo độ mịn (hình 1 và bảng 1), trong đó loại thước 100 mm là phù hợp cho mục đích sử dụng chung và các loại thước 50 mm, 25 mm, 15 mm cho các kết quả tin cậy, chính xác hơn.
Độ mịn đo bằng thước là số đọc được trên thước đo chuẩn, dưới các điều kiện kiểm nghiệm quy định. Nó thể hiện độ sâu của rãnh thước mà ở đó những hạt rắn riêng biệt trong sản phẩm có thể được nhận rõ.
2.1. Thước đo
Gồm một khối thép rắn dài khoảng 175 mm, rộng 65 mm và dày 13 mm và phải đảm bảo ít nhất là không bị gỉ khi thử nghiệm với sơn nước.
Bề mặt phía trên khối thép phải phẳng, nhẵn, có một hoặc hai rãnh dài khoảng 140 mm, rộng 12,5 mm, dọc theo chiều dài của khối thép. Độ sau của mỗi rãnh phải tăng dần từ 0 đến 100 mm (hoặc 50 mm, 25 mm, 15 mm) và được chia độ như quy định trong bảng 1.
Độ sâu của mỗi điểm ngang qua rãnh và dọc rãnh không được lệch với giá trị danh định của nó quá 2,5 mm.
Mặt trên của khối thép phải được mài tinh hay mài bóng phẳng đến mức tất cả các điểm trên nó nằm ở giữa hai mặt phẳng song song cách nhau 12 mm và tại mỗi điểm dọc theo chiều dài, mọi điểm ngang qua thước phải nằm giữa hai đường thẳng song song cách nhau 1 mm.
Bề mặt trên và dưới của khối thép phải song song với độ chênh lệch cho phép không vượt quá 25 mm.
Chia độ và phạm vi sử dụng của các thước.
2.2. Dao gạt
Gồm một con dao thép một hạơc hai lưỡi, dài khoảng 90 mm, rộng 40 mm, dày 6 mm.
Lưỡi dao gạt phải thẳng và tròn với bán kính khoảng 0,25 mm (xem hình 2).
| Loại thước với độ sâu lớn nhất của rãnh, mm | Khoảng chia độ, mm | Phạm vi sử dụng, mm |
| 100 | 10 | 40 - 90 |
| 50 | 5 | 15 - 40 |
| 25 | 2,5 | 5 - 15 |
| 15 | 1,5 | 1,5 - 12 |
Dao gạt phải được kiểm tra định kỳ độ mòn, sự phá huỷ hay độ cong bằng cách đặt lưỡi dao lên mặt phẳng và kiểm tra sự tiếp xúc của lưỡi với mặt phẳng đối diện với ánh sáng mạnh.
Chú thích
1. Có thể dùng bề mặt trên của thước để kiểm tra dao gạt hàng ngày.
2. Khi dùng xong dao gạt phải được cất trong hộp bọc nhung hay vật liệu mềm tương tự.
Lấy mẫu cho sản phẩm cần kiểm tra theo TCVN 2091 - 1993
Kiểm tra và chuẩn bị mẫu thử theo TCVN 5669 - 1993
4.1. Xác định độ mịn của sản phẩm bằng thước 100 mm và chọn thước phù hợp theo bảng 1. Kết quả này không được tính là kết quả thí nghiệm. Sau đó đo chính xác ba lần trên thước đã chọn.
4.2. Đặt thước (phải khô, sạch) lên mặt phẳng nằm ngang có bề mặt không bị trượt.
4.3. Rót một lượng mẫu (đủ để lấp đầy rãnh) vào sâu của rãnh sao cho mẫu hơi bị chảy ra ngoài rãnh một ít. Chú ý khi rót mẫu không để tạo bọt khí.
4.4. Giữ dao gạt vuông góc với bề mặt thước, lưỡi dao gạt song song với chiều ngang thước và tiếp xúc với bề mặt thước ở phía sâu nhất của rãnh. Kéo dao gạt quá khỏi điểm có độ sâu 0 mm của rãnh với tốc độ không đổi trong 1 - 2s. Sử dụng một áp lực đủ xuống dao gạt sao cho rãnh được lắp đầy mẫu và lượng dư gạt ra ngoài rãnh.
4.5. Trong thời gian không quá 3s kể từ khi gạt xong, dưới ánh sáng đủ để nhìn rõ mẫu, quan sát mẫu dưới góc nhìn trong khoảng 20 - 300 so với bề mặt thước.
Chú thích
1. Nếu độ chảy của mẫu trên thước không được trơn tru sau khi gạt, có thể dùng một lượng tối thiểu dung môi hay dung dịch chất tạo màng cho vào mẫu và khuấy bằng tay, sau đó là lại thử nghiệm.
2. Bất kỳ sự pha loãng nào phải ghi trong bien bản kiểm tra vì trong một vài trường hợp cá biệt sự pha loãng có thể làm mẫu bị tách và kết quả độ mịn bị ảnh hưởng.
4.6. Quan sát mẫu trên rãnh mà ở đó xuất hiện bề mặt lốm đốm nhiều, đặc biệt ở chỗ mà một vùng rộng 3mm ngang qua rãnh chứa 5 - 10 hạt (xem hình 3).
Đánh giá giới hạn trên của vùng đốm đến vị trí gần nhất trên thang chia độ của từng loại thước như sau:
5 mm cho thước 100 mm
2 mm cho thước 50 mm
1 mm cho thước 25 mm
0,5 mm cho thước 15 mm
Bề mặt lốm đốm của mẫu xuất hiện trên rãnh có các dạng vết xước hoặc xuất hiện các hạt thô tuỳ thuộc vào độ đặc loãng và loại sơn.
4.7. Vệ sinh thước và dao gạt cẩn thận bằng dung môi phù hợp ngay sau khi đọc kết quả.
5.1. Cách tính toán
Tính giá trị trung bình của 3 lần thử và ghi kết quả với độ chính xác như các kết quả đọc được ban đầu (4.6).
5.2. Độ chính xác
5.2.1. Độ lặp lại
Với cùng một mẫu, giá trị tuyệt đối của hai hiệu số giữa hai kết quả kiểm tra riêng biệt thu được bới cùng một người, trong cùng một phòng thí nghiệm, sử dụng cùng một phương tiện trong cùng một khoảng thời gian ngắn, sử dụng phương pháp thử đã chuẩn hóa, với xác suất là 10% phạm vi sử dụng thước.
5.2.2. Độ tái lập
Giá trị tuyệt đối của hiệu số giữa hai kết quả kiểm tra riêng biệt thu được bởi các thí nghiệm viên, trong các phòng thí nghiệm khác nhau, sử dụng phương pháp thử đã chuẩn hóa với xác suất 95% là 20% phạm vi sử dụng thước.
- 1 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 388:2007 về sơn - phương pháp xác định độ cứng của màng phủ bằng thiết bị con lắc do Bộ Xây dựng ban hành
- 2 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 221:2004 về sơn xây dựng - phân loại do Bộ Xây dựng ban hành
- 3 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 352:2005 về sơn - phương pháp không phá hủy xác định chiều dày màng sơn khô do Bộ Xây dựng ban hành
- 4 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 341:2005 về sơn tường - sơn nhũ tương - phương pháp xác định độ bền nhiệt ẩm của màng sơn do Bộ Xây dựng ban hành
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2092:1993 về sơn - phương pháp xác định thời gian chảy (độ nhớt quy ước) bằng phễu chảy
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2093:1993 về sơn - phương pháp xác định hàm lượng chất rắn và chất tạo màng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 1 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 388:2007 về sơn - phương pháp xác định độ cứng của màng phủ bằng thiết bị con lắc do Bộ Xây dựng ban hành
- 2 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 221:2004 về sơn xây dựng - phân loại do Bộ Xây dựng ban hành
- 3 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 352:2005 về sơn - phương pháp không phá hủy xác định chiều dày màng sơn khô do Bộ Xây dựng ban hành
- 4 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 341:2005 về sơn tường - sơn nhũ tương - phương pháp xác định độ bền nhiệt ẩm của màng sơn do Bộ Xây dựng ban hành
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2092:1993 về sơn - phương pháp xác định thời gian chảy (độ nhớt quy ước) bằng phễu chảy
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2093:1993 về sơn - phương pháp xác định hàm lượng chất rắn và chất tạo màng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 7 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 2091:2008 về Sơn, vecni và mực in - Xác định độ nghiền mịn