Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5089:1990
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5089:1990 hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 6322/2-1981. Tiêu chuẩn này đưa ra các hướng dẫn thực hành và yêu cầu cơ bản đối với việc bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ. Đây là văn bản kỹ thuật quan trọng giúp các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lưu kho và chế biến lương thực nắm vững các nguyên tắc kỹ thuật nhằm giảm thiểu hao hụt chất lượng và số lượng nông sản trong quá trình lưu kho.
Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn (Điều 1)
Điều khoản này xác định rõ giới hạn và đối tượng áp dụng của tiêu chuẩn, cụ thể bao gồm:
- Áp dụng trực tiếp cho các loại ngũ cốc và đậu đỗ được bảo quản làm lương thực cho người, thức ăn cho gia súc hoặc làm giống.
- Đưa ra các khuyến nghị thực tế về việc lựa chọn phương pháp bảo quản phù hợp với từng loại nông sản và điều kiện khí hậu cụ thể.
- Không áp dụng cho các quy trình bảo quản đặc biệt đòi hỏi công nghệ kiểm soát khí quyển nhân tạo chuyên sâu, trừ khi có các chỉ dẫn phối hợp cụ thể.
Tiêu chuẩn trích dẫn và tài liệu viện dẫn (Điều 2)
Để áp dụng hiệu quả TCVN 5089:1990, người sử dụng cần liên kết và tham chiếu với các tài liệu tiêu chuẩn liên quan khác nhằm đảm bảo tính đồng bộ:
- Các phần khác của bộ tiêu chuẩn ISO 6322 (hoặc TCVN tương đương) về bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ, đặc biệt là phần về thuật ngữ và phần về kiểm soát sinh vật hại.
- Các tiêu chuẩn phương pháp thử nghiệm xác định độ ẩm, tỷ lệ tạp chất và chất lượng cảm quan của ngũ cốc và đậu đỗ trước khi đưa vào kho.
Yêu cầu cơ bản đối với nông sản trước khi đưa vào bảo quản (Điều 3)
Chất lượng của ngũ cốc và đậu đỗ trước khi nhập kho quyết định phần lớn đến hiệu quả của toàn bộ quá trình bảo quản. Tiêu chuẩn quy định các yêu cầu nghiêm ngặt sau:
- Độ ẩm an toàn: Đây là yếu tố tiên quyết. Nông sản phải được làm khô đến giới hạn độ ẩm an toàn (thường dưới 13% đến 14.5% tùy loại) để ngăn ngừa sự phát triển của nấm mốc và hạn chế sự hô hấp của hạt.
- Độ sạch và tạp chất: Lô hàng phải được làm sạch, loại bỏ tối đa các tạp chất hữu cơ (lá, thân, hạt lép) và tạp chất vô cơ (đất, đá, kim loại). Tạp chất là nơi tích tụ ẩm và là môi trường thuận lợi cho côn trùng phát triển.
- Tình trạng sức khỏe của hạt: Hạt đưa vào bảo quản phải nguyên vẹn, không bị rạn nứt, không bị nhiễm sâu bệnh hoặc nấm mốc từ trước. Hạt bị tổn thương cơ học rất dễ bị vi sinh vật tấn công.
- Nhiệt độ của khối hạt: Trước khi xếp kho, nhiệt độ của khối hạt cần được đưa về mức tương đương với nhiệt độ môi trường hoặc thấp hơn để tránh hiện tượng ngưng tụ hơi nước do chênh lệch nhiệt độ.
Yêu cầu đối với nhà kho và phương tiện bảo quản (Điều 4)
Thiết kế và tình trạng của nhà kho đóng vai trò bảo vệ khối nông sản trước các tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài. Tiêu chuẩn đưa ra các khuyến nghị kỹ thuật chi tiết:
- Khả năng chống thấm và chống ẩm: Nhà kho phải được xây dựng ở nơi cao ráo, có hệ thống thoát nước tốt. Mái kho, tường và nền kho phải đảm bảo chống thấm nước mưa và ngăn chặn sự xâm nhập của hơi ẩm từ lòng đất.
- Ngăn ngừa sinh vật hại: Cấu trúc kho phải kín kẽ để ngăn chặn sự xâm nhập của chuột, chim và các loại côn trùng gây hại. Các lỗ thông gió phải được trang bị lưới chắn côn trùng có kích thước mắt lưới phù hợp.
- Thông gió và kiểm soát nhiệt độ: Kho cần có hệ thống thông gió tự nhiên hoặc cưỡng bức được thiết kế khoa học, cho phép trao đổi không khí khi điều kiện thời tiết bên ngoài thuận lợi (nhiệt độ và độ ẩm không khí bên ngoài thấp hơn bên trong kho).
- Vệ sinh và khử trùng kho: Trước khi nhận hàng mới, toàn bộ nhà kho phải được quét dọn sạch sẽ, thu gom hết phế liệu của vụ trước và tiến hành phun thuốc khử trùng tiêu độc để tiêu diệt mầm bệnh và côn trùng còn sót lại.
Các nguyên tắc quản lý kỹ thuật trong quá trình lưu kho
Bên cạnh các yêu cầu cứng về hạ tầng và chất lượng đầu vào, tiêu chuẩn cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giám sát thường xuyên:
- Thực hiện kiểm tra định kỳ nhiệt độ của khối hạt tại nhiều điểm khác nhau trong kho để phát hiện sớm hiện tượng tự bốc nóng.
- Theo dõi sự xuất hiện của côn trùng, nấm mốc bằng các phương pháp lấy mẫu định kỳ theo tiêu chuẩn quy định.
- Áp dụng nguyên tắc nhập trước - xuất trước (FIFO) để đảm bảo thời gian lưu kho của mỗi lô hàng không vượt quá giới hạn an toàn sinh học.
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM
TCVN 5089:1990
(ISO 6322/2-1981)
BẢO QUẢN NGŨ CỐC VÀ ĐẬU ĐỖ
YÊU CẦU CƠ BẢN
Storage of cereals and pulses
Essential requirements
Tiêu chuẩn này phù hợp với ISO 6322/2-1981 hướng dẫn cách chọn phương pháp bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ và đưa ra yêu cầu cơ bản để bảo quản tốt theo phương pháp đã chọn.1. Vận chuyểnMọi hệ thống bảo quản đòi hỏi có phương tiện vận chuyển hàng hoá vào và ra khỏi kho. Phương tiện được chọn để làm giảm tới mức tối thiểu sự hư hỏng hoặc suy giảm giá trị của hạt và các thùng chứa, và để ngăn giữ bụi, trong chừng mực có thể thực hiện được.2. Bảo quản dạng hở2.1. Khái quátBảo quản dạng hở là rẻ nhất nhưng là phương pháp kém an toàn nhất. Có nguy cơ lớn do sự phá hoại của chim, gậm nhấm côn trùng và sâu mọt, sự phá hoại của nấm, hư hỏng do thời tiết xấu, do trộm cắp, do sự hư hỏng cơ học các bao đựng và do những rủi ro khác. Nói chung, bảo quản dạng hở chỉ nên tiến hành trong thời gian ngắn.2.2. Bảo quản không mái cheBảo quản không mái che được quan tâm hơn ở các nước khô ráo, tại đây cơn mưa rào đột ngột, ngắn chỉ ảnh hưởng đến bề mặt (tới độ sâu khoảng 2 cm) và ánh nắng mặt trời sau đó sẽ làm khô dần hạt trở lại. Dĩ nhiên, sự phơi nắng như thế có thể dẫn đến hư hỏng do "biến màu". Bảo quản dưới tuyết cũng thực hiện được, bởi vì nhiệt độ thấp hạn chế sâu mọt và nấm phát triển. Mặc dù vậy, một ít loài nấm mốc sinh độc tố có thể mọc ở nhiệt độ gần lạnh đông trên hạt bị tuyết làm ướt, và do vậy phải thật cẩn thận khi áp dụng phương pháp bảo quản này.Bảo quản dạng hở có thể thực hiện:a) Trên nền đất, trong các bao tải hoặc đánh đống lớn (bảo quản ngũ cốc thu hoạch chưa đập thành dạng bó hoặc xếp đống ngày càng ít phổ biến).Như các công trình xây dựng khác, cần thiết kế xilô đủ vững chắc và xây dựng không có vết nứt, kẽ hở.
Khi xây dựng xilô, phải có hệ thống xông khói và phun thuốc cũng như những phương tiện thuận lợi để làm sạch và kiểm tra, như là một phần của thiết bị ban đầu.Đối với xilô của nông trại nhỏ không cần thiết bị vận chuyển cơ khí tự động nhưng lại cần với hệ thống trang bị lớn.5. Hệ thống bảo quản đặc biệt5.1. Bảo quản kínBảo quản trong khu kín để có thể kiểm tra và ngăn ngừa sự phá hoại của sâu mọt đối với hạt khô và ngăn chặn sự sinh trưởng của nấm mốc đối với hạt đủ ẩm mà chúng phát triển được trong bảo quản hở. Nguyên tắc của phương pháp là như nhau trong cả hai, cụ thể là loại trừ ôxy cần cho sự sinh trưởng của sâu mọt hoặc nấm mốc. Điều này do sự hô hấp của sinh vật nhưng cũng do hô hấp của hạt.Cácbon dioxyt sinh ra có thể giúp tiêu diệt sâu mọt. Quá trình đó có thể được đẩy nhanh khi thổi khí nitơ, cacbon dioxyt hoặc khí trơ vào những nơi cần thiết. Với kho cần máy móc tương đối đơn giản để đổ đầy và tháo hạt thì bảo quản kín rất thích hợp. Với loại bảo quản này, có thể cần có những phương tiện lấy mẫu để kiểm tra chất lượng, ví dụ như phân loại.5.1.1. Bảo quản kín để khống chế sâu mọtBảo quản kín rất thích hợp để khống chế sự phá hoại của sâu mọt đối với hạt khô, mà không cần dùng đến thuốc trừ dịch hại. Cách bảo quản này đặc biệt có thể áp dụng cho những dự trữ lâu dài phòng đói kém ở các nước ấm áp mà giới hạn trên về hàm lượng ẩm của hạt nên là 13,5% (khối lượng). Trong những điều kiện đó có ít thay đổi về tính chất của hạt, có thể dùng cho hầu hết các mục đích, bao gồm cả làm lương thực cho người. Tuy vậy, không nên bảo quản hạt giống trong thùng kín lâu quá một vụ thu hoạch.Trong thực tế, sự phá hoại bình thường ban đầu làm giảm nồng độ oxy trong thùng đựng kín xuống khoảng 2% trong 2 đến 3 tuần lễ, do đó tiêu diệt được sâu mọt. Nếu qua các kẽ hở, lượng oxy lọt vào lại mỗi ngày ít hơn khoảng 0,5% khoảng không bên trên hạt và không khí giữa các hạt, thì thế hệ sâu mọt tiếp sau không có khả năng sống sót và sự phá hoại sẽ bị ngăn chặn.Nhưng nếu kẽ hở lớn hơn, sâu mọt có thể sinh trưởng và làm nhiễm sâu mọt nhẹ.5.1.2. Bảo quản kín để ngăn ngừa sự sinh trưởng của nấm.Đối với các nước ôn đới, bảo quản kín để ngăn ngừa sự sinh trưởng của nấm trong hạt ẩm thích hợp hơn.Trong bảo quản kín, hạt có hàm lượng ẩm hơn 16% (khối lượng), những thay đổi trong hạt có thể xảy ra do hoạt động của các men xuất hiện tự nhiên. Cũng có thể có hoạt động của các vi sinh vật yếm khí. Hạt bị biến đổi ảnh hưởng tới tính trương nở và xay mịn bị suy giảm khả năng nảy mầm. Bảo quản hạt như thế chỉ thích hợp cho mục đích công nghiệp hoặc làm thức ăn gia súc.Để bảo quản tốt hạt như vậy, hạt cần có hàm lượng ẩm trong khoảng từ 18 đến 22% (khối lượng). Nếu hạt có hàm lượng ẩm cao hơn mức trên, có thể xảy ra vấn đề "cầu nối" và độ chịu nén của hạt yếu hơn. ở các xilô cao, với hàm lượng ẩm hơn 25% (khối lượng) cần có hệ thống dỡ hạt đặc biệt.Nếu kho không giữ được kín theo yêu cầu, vi sinh vật có hại có thể phát triển, đặc biệt nếu không có phương tiện thích hợp làm giảm đến mức tối thiểu oxy lọt vào.Nguy cơ kể trên có thể giảm đi nếu quản lý cẩn thận và đặc biệt vào mùa xuân khi nhiệt độ tăng ở các nước ôn đới thì xilô phải rỗng. Tại các nước nhiệt đới, nhiệt độ quanh năm luôn luôn tối ưu cho sự sinh trưởng của nấm mốc, thì không nên bảo quản kín với hạt có hàm lượng ẩm hơn 14% (khối lượng).5.1.3. Các loại kho kínBảo quản kín có thể hoặc ngầm hoặc nổi trên mặt đất.5.1.3.1. Kho ngầmHầm có ưu điểm là có nhiệt độ đồng đều hơn và nói chung làm giảm rủi ro di chuyển ẩm.Phải chọn một vị trí thích hợp, có mực nước quanh năm thấp hơn đáy hầm. Phải ngăn chặn nước ngầm và nước mưa xâm nhập. Tường hầm không được ngấm nước; bêtông phải có lớp bitum, nhưng với hầm nhỏ hơn có thể lót bằng hỗn hợp bùn, bitum và rơm kết hợp với pôlyetylen hoặc vật liệu tương tự. Cũng cần phải chống thấm hơi nước cho mái, có thể dễ cuốn hoặc không (ví dụ tấm lợp mái là vải lợp và lưới giây thép). Không được quá nhấn mạnh tầm quan trọng của một kho tốt, vững chắc.5.1.3.2. Kho nổi trên mặt đấtở các nước ôn đới, các thùng nổi trên mặt đất đang được dùng ngày càng nhiều, đặc biệt để bảo quản hạt có hàm lượng ẩm cao, dùng làm thức ăn chăn nuôi. Có thể xây thùng bằng thép tấm, có thể sơn, tráng kẽm hoặc tráng men; trừ ở Pháp thùng hàn rất thông dụng, các tấm thường được gắn bằng matit đặc biệt. Cần sắp xếp để giảm áp lực và để không khí lọt vào ít nhất khi tháo hạt. Nếu dùng các thiết bị dỡ hàng trên đỉnh, khi tháo hạt cần được tiến hành với một tốc độ định trước, để hạn chế mức thấp nhất sự phát triển của vi sinh vật độc ở lớp hạt trên bề mặt.Có thể chế tạo thùng đựng kín di động, dung lượng tới 2500t bằng cách dỡ một bao dẻo trong một lồng lưới kim loại. Bao thường đượcsản xuất từ cao su butyl, nhưng có thể dùng poliêtylen và polivinylclorua có độ dầy thích hợp hoặc vật liệu tương tự.Nên có cách nhiệt.5.2. Bảo quản lạnhTrong hệ thống bảo quản kín, hạt và sâu mọt ảnh hưởng nhiều đến môi trường không khí trong kho nhưng trong các hệ bảo quản thông khí các điều kiện được điều khiển nhân tạo.Có thể thông khí để giữ hạt ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ mà ở đó số lượng sâu mọt và nấm mốc có thể tăng.5.2.1. Thông khí bằng không khí xung quanhKhi hạ nhiệt độ xuống dưới 150C, sự phát triển của hầu hết sâu mọt, trừ sinh vật nhỏ, trở nên chậm đến mức sự xâm nhiễm coi như được ngăn chặn. Ví dụ, tại các nước ôn đới, việc thông khí bằng không khí xung quanh với luồng khí từ 1,66 đến 2,5 1/s (0,1 đến 0,15 m/phút) cho 1m3 hạt trong tổng thời gian thông khí từ 120 đến 170 giờ, có thể kéo dài vài tuần lễ là đủ. Cần phải hạn chế thông khí trong những thời kỳ khi điều kiện của không khí làm cho hàm lượng ẩm của hạt, không vượt quá mức an toàn của bảo quản và được giữ càng thấp càng tốt.Hiện nay các nước ôn đới, làm lạnh hạt bằng thông khí với không khí xung quanh là một thực tế có cơ sở vững vàng, ở đó từng khối hạt hơn 20.000t được xử lý như vậy.ở một vài trang bị ở trang trại, hạt có hàm lượng ẩm cao hơn mức an toàn thì sự sinh trưởng cực nhanh của nấm bị ngăn chặn bằng thông khí, làm giảm nhiệt độ của hạt đến khoảng 5 tới 100C trong 2 đến 3 tháng. Khi hạt có hàm lượng ẩm quá 18% (khối lượng) thì mùi mốc có thể xuất hiện sau 5 đến 6 tháng và sự sinh trưởng của nấm nhìn thấy được xảy ra ở khoảng 2% khối hạt khi hàm lượng ẩm quá 20 đến 21% (khối lượng) nếu nhiệt độ bên ngoài thuận lợi. Nếu hàm lượng ẩm quá mức an toàn, thì sự thông khí liên tục với tốc độ cao hơn có thể làm khô hạt từ từ trong khi bảo quản.Nếu hạt có hàm lượng ẩm vượt quá 17% (khối lượng), thì độ nảy mầm sẽ bị ảnh hưởng. Đối với bảo quản bình thường nếu hàm lượng ẩm vượt quá mức an toàn thì chỉ có thể ngăn chặn sự nhiễm sâu một khi nhiệt độ gần độ lạnh đông.5.2.2. Làm lạnh bằng không khí đã được làm lạnhĐây là một qui trình khắc nghiệt hơn. Nếu phải đề phòng hư hỏng do nấm thì hạt phải được hạ đến nhiệt độ mong muốn trong vài ngày. Nhiệt độ này phụ thuộc vào hàm lượng ẩm và không được cao hơn 50C đối với hàm lượng ẩm của hạt là 20% (khối lượng), mức tối đa cho phép trong bảo quản lạnh. Trong điều kiện như trên, sự nhiễm sâu mọt có thể phát triển chậm, dù rằng sự sinh trưởng của nấm đã bị ức chế nhiều. Trong khí hậu ôn đới, những lợi ích làm lạnh bằng không khí đã được làm lạnh bị hạn chế so với thông khí bằng không khí xung quanh. Tại các nước nhiệt đới, bảo quản lạnh hạt có độ ẩm cao là không thiết thực, mặc dù có thể dùng một số biện pháp làm lạnh để hạ nhiệt độ của khối hạt khô đến mức (150C) cần để khống chế hầu hết các loài sâu mọt.6. Bảo quản trong khi vận chuyển6.1. Vận chuyển ngắn hạnVận chuyển ngắn hạn thường là đường bộ, đường sắt hoặc trong sà lan. Có thể chứa hạt trong chính phương tiện vận chuyển hoặc trong thùng chứa đựng di động. Lượng đơn vị đựng hạt được vận chuyển tương đối nhỏ. Phương tiện vận chuyển và thùng chứa cần phải sạch sẽ, khô và không có mùi lạ và không bị nhiễm sâu mọt. Cần phòng ướt dưới bất kỳ hình thức nào.Nếu sản phẩm bị bất ngờ giữ lại thời gian dài trong phương tiện vận chuyển và thùng chứa thì sự nhiễm sâu mọt có thể trở thành vấn đề, và nếu hàm lượng ẩm quá mức cho phép thì hoạt động của vi sinh vật cũng đáng lưu ý.6.2. Vận chuyển dài hạn: vấn đề chungVận chuyển dài hạn thường được thực hiện bằng đường biển. Những chuyến đi bình thường có thể kéo dài khoảng từ 4 đến 6 tuần lễ, nhưng có thể bị kéo dài do hư hỏng động cơ tàu v.v... Ngoài ra, sau khi đã kết thúc chuyến đi thì có thể lại bị kéo dài trong bốc dỡ hàng hoá do ứ đọng tại cảng. Tại một số cảng, kéo dài vài tuần lễ là bình thường và kéo dài tới 6 tháng đã xảy ra. ở các nước ấm áp, những sự kéo dài tại cảng như thế là đặc biệt nguy hiểm.Có thể vận chuyển ngũ cốc và đậu đỗ trong bao hoặc hạt rời, hiện nay dạng hạt rời là phương pháp chủ yếu để vận chuyển ngũ cốc. Đậu đỗ chủ yếu vẫn được vận chuyển trong bao. Nhiều hàng hoá đóng bao và một số ngũ cốc hạt rời được vận chuyển trong thùng chứa hàng khô.Nói chung, có thể xem các hầm chứa hàng của tàu biển như những kho hàng hoặc xilô. Cần phải áp dụng những nguyên tắc như nhau về bảo quản như đã được vạch ra trong các điều trên. Do đó cần phải đảm bảo khoang chứa hàng sạch khô và không bị ô nhiễm trước khi chất hàng. Mọi bao dùng, ví dụ như để ổn định hàng chở cũng cần phải sạch và không nhiễm sâu mọt. Bản thân hàng chở phải có mức thấp về nhiễm sâu mọt. Các nước xuất khẩu khác nhau sử dụng những chuẩn cứ phân biệt về mức chấp nhận về nhiễm sâu mọt đối với hàng hoá xuất khẩu. Nơi nào đã có thể lệ thì hàng ngũ cốc và đậu đỗ phải tuân theo các thể lệ ấy. Nơi nào chưa có những thể lệ đó, thì mức nhiễm sâu mọt tối đa chỉ được là 2 sâu mọt trưởng thành sống trên 1 kg hạt bảo quản. Cũng nên phát hiện và xác định nhiễm ẩm trong khối hạt.ởnhiệt độ khi xếp, hàng hoá phải có hàm lượng ẩm đủ thấp để ngăn ngừa sự xuất hiện của hoạt động vi sinh vật trước khi bốc dỡ hàng. Tuy nhiên, đối với những chuyến đi ngắn, có thể chất xếp xuống tàu ngũ cốc và đậu đỗ có hàm lượng ẩm cao hơn một chút so với mức tối đa cho phép của sản phẩm để bảo quản dài hạn. Dung sai được chấp nhận tuỳ thuộc vào điều kiện của chuyến đi, lượng hàng bốc chuyên chở trong từng khoang chứa hàng v.v... Hàm lượng ẩm của hàng vận chuyển phải phù hợp với các thể lệ của nước nhập khẩu hoặc theo các điều khoản trong hợp đồng thương mại.6.3. Vấn đề liên quan đến vận chuyển biểnNhững yếu tố khác xảy ra với vận chuyển biển, nhưng với hàng hoá bảo quản trên đất liền thì không gặp hoặc ít ý nghĩa hơn.6.3.1. Xếp hàng dưới tàu biểnKhi chất xếp hàng hoá vào tàu biển, không những phải cân nhắc phương pháp tốt nhất để bảo vệ hàng hoá khỏi hư hỏng mà còn cần phải đảm bảo an toàn cho tàu trong suốt chuyến đi. Yêu cầu an toàn là tối cao vì vậy có thể xếp hàng trên tàu theo một cách mà trong một số hoàn cảnh nhất định có thể xẩy ra hư hỏng hàng hoá, có thể tránh được nếu xếp hàng theo cách khác; lấy một ví dụ, thể lệ vận chuyển biển của các nước tham gia Hội nghị quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển yêu cầu phải xếp hàng ngũ cốc rời dưới hầm tàu trong các vách ngăn. Biện pháp này ngăn ngừa việc di chuyển hàng hoá trong các khoang chứa. Tuy nhiên, chất xếp hàng như thế có thể làm cho hạt tiếp giáp với vách hầm bị ẩm do hậu quả của di chuyển ẩm và ngưng tụ hơi nước trên vách.Thể lệ vận chuyển biển thực chất là vấn đề hàng hải và phức tạp. Có những nước xuất khẩu yêu cầu phải chất xếp hàng vào tàu theo các thể lệ riêng của họ, trong khi có những nước khác yêu cầu phải chất xếp hàng theo thể lệ của nước đăng ký tàu. Nói chung, toàn bộ các thể lệ hàng hải tương tự hoặc giống hệt các điều khoản trong báo cáo "Hội nghị quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển 1960" do tổ chức tư vấn hàng hải liên Chính phủ, Luân Đôn xuất bản. Thông thường, các nhà chức trách tại cảng hoặc các thanh tra viên hàng hải tiến hành thanh tra hàng hoá trong khi chất xếp để đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt như đã khai hoặc để đảm bảo tàu biển được chất xếp có thể đi biển được.6.3.2. Thay đổi nhiệt độ và di chuyển ẩmKhi ngũ cốc và đậu đỗ được chở trong các hầm tàu biển, thì nhiệt độ môi trường nước biển và không khí bên ngoài có thể thay đổi hết sức nhanh. Điều này lại là nguyên nhân làm tăng nhiệt độ phần bên ngoài của khối hàng hoá và từ đó xảy ra di chuyển ẩm từ vùng nóng hơn đến vùng lạnh hơn của khối hàng hoá. Tuy nhiên, những thay đổi nhiệt độ trong khối hạt rất chậm.Di chuyển ẩm có thể rất đáng kể, nhưng trong khối hạt rời xảy ra ít hơn so với các sản phẩm khác; hàng hoá khác nhau khác biệt đáng kể về điểm này.Hơi nóng bên ngoài từ các nguồn của tàu biển như từ vách buồng động cơ, ống dẫn hơi nước và nắp thùng nhiên liệu có thể gây di chuyển ẩm và kích thích sự nhiễm sâu mọt có thể dẫn đến bốc nóng tự phát.Cách ly các nguồn nhiệt là việc làm bình thường, có thể dùng vỏ bào gỗ để che phủ vách buồng nhiệt và đầu thùng nhiên liệu và các loại cách nhiệt khác nhau đối với các ống hơi nóng.6.3.3. Thông gióTheo một số cơ quan có trách nhiệm, thông gió được coi là có lợi trong việc hạn chế đến mức tối thiểu sự thiệt hại do di chuyển ẩm. Tuy nhiên, thực tế là tất cả tàu biển chuyên chở ngũ cốc và đậu đỗ, chỉ được thông gió bề mặt không thể dùng để làm khô hoặc làm lạnh hàng hoá. Do đó thông gió chỉ có thể có hiệu quả trong việc hạn chế đến mức tối thiểu hư hỏng bề mặt. Thậm chí trong những năm gần đây, chức năng này đã bị nghi ngờ vì những lý do khác nhau và những thống kê gần đây cho thấy có thể chuyên chở tốt nhất hạt rời trong các tàu chở dầu không thông gió.Khi thực hiện thông gió, cần tiến hành sao cho điểm sương của không khí thông gió thấp hơn điểm sương của không khí ở lớp trên đỉnh và vùng kề liền của khối hàng. Nếu không hàng hoá hấp thụ lượng ẩm của không khí thông gió. Có những tàu biển được lắp đặt thiết bị đặc biệt để làm khô không khí thông gió, nhưng phần lớn không khí sử dụng lấy từ bên ngoài. Đối với những tàu biển đó cần phải ngừng thông gió nếu điểm sương của không khí bên ngoài quá cao.Đối với xếp hạt rời và hàng hoàn chỉnh, vì những lý do về sự ổn định cần phải xếp gọn ghẽ hàng từ sườn ngang đầu sàn tàu, hạn chế đáng kể luồng không khí trên bề mặt và do vậy hạn chế thông gió bề mặt. Mặt khác, trừ khi dùng hàng hoá đóng bao để làm trung tâm khối hàng, hàng phải xếp vào trong các vách ngăn hầm tàu tạo lối đi lại trong khoang. Điều đó hạn chế việc thông gió bề mặt.- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6130:1996 (ISO 6639/4:1987) về ngũ cốc và đậu đỗ - xác định sự nhiễm côn trùng ẩn náu - các phương pháp nhanh do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4995:1989 (ISO 5527/1-1979)
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5581:1991 (ISO 6322-3: 1989) về bảo quản ngũ cốc và đậu hạt - kiểm tra sự xâm nhập của vật gây hại do Ủy ban Khoa học Nhà nước ban hành
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4994:1989 về rây thử cho ngũ cốc do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4997:1989 về ngũ cốc và đậu đỗ - Phương pháp thử sự nhiễm sâu mọt bằng tia X do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7857-1:2008 (ISO 6322-1 : 1996) về bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ - Phần 1: Khuyến nghị chung về bảo quản ngũ cốc
- 7 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7857-3:2008 (ISO 6322-3 : 1989) về bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ - Phần 3: Kiểm soát sự xâm nhập của dịch hại
- 8 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5619:1991 về ngũ cốc - Phương pháp xác định dư lượng diclovot
- 9 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9708:2013 (ISO 16002:2004) về Ngũ cốc và đậu đỗ bảo quản - Hướng dẫn phát hiện nhiễm động vật không xương sống bằng bẫy
- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6130:1996 (ISO 6639/4:1987) về ngũ cốc và đậu đỗ - xác định sự nhiễm côn trùng ẩn náu - các phương pháp nhanh do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4995:1989 (ISO 5527/1-1979)
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5581:1991 (ISO 6322-3: 1989) về bảo quản ngũ cốc và đậu hạt - kiểm tra sự xâm nhập của vật gây hại do Ủy ban Khoa học Nhà nước ban hành
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4994:1989 về rây thử cho ngũ cốc do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4997:1989 về ngũ cốc và đậu đỗ - Phương pháp thử sự nhiễm sâu mọt bằng tia X do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7857-1:2008 (ISO 6322-1 : 1996) về bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ - Phần 1: Khuyến nghị chung về bảo quản ngũ cốc
- 7 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7857-3:2008 (ISO 6322-3 : 1989) về bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ - Phần 3: Kiểm soát sự xâm nhập của dịch hại
- 8 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5619:1991 về ngũ cốc - Phương pháp xác định dư lượng diclovot
- 9 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7857-2 : 2008 (ISO 6322-2 : 2000) về bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ - Phần 2: Khuyến nghị thực hành
- 10 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9708:2013 (ISO 16002:2004) về Ngũ cốc và đậu đỗ bảo quản - Hướng dẫn phát hiện nhiễm động vật không xương sống bằng bẫy