Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Tuyên bố về quyền của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 9 tháng 12 năm 1975 theo Nghị quyết số 3447 (XXX). Đây là một văn kiện pháp lý quốc tế mang tính bước ngoặt, đặt nền móng vững chắc cho việc bảo vệ, thúc đẩy quyền lợi và sự hòa nhập xã hội của người khuyết tật trên toàn thế giới. Dưới đây là phần tóm tắt và phân tích chuyên sâu về Phần mở đầu cùng các Điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của Tuyên bố.

- Bối cảnh và ý nghĩa của Phần mở đầu

Phần mở đầu của Tuyên bố thiết lập nền tảng tư tưởng và pháp lý quốc tế vững chắc bằng việc viện dẫn các cam kết chung của cộng đồng quốc tế:

  • Khẳng định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên theo Hiến chương Liên Hợp Quốc trong việc thúc đẩy quyền con người, tự do cơ bản, nâng cao mức sống và tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
  • Nhắc lại các nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền và các Công ước quốc tế về nhân quyền.
  • Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ những người dễ bị tổn thương về thể chất và tinh thần, kế thừa tinh thần từ Tuyên bố về Tiến bộ và Phát triển Xã hội cũng như Tuyên bố về Quyền của Người chậm phát triển trí tuệ năm 1971.
  • Tuyên bố thừa nhận rằng cần phải có những nỗ lực phối hợp ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế để giúp người khuyết tật phát triển tối đa năng lực, đồng thời thúc đẩy sự hòa nhập nhanh chóng của họ vào đời sống cộng đồng.

- Định nghĩa pháp lý về người khuyết tật (Điều 1)

Điều 1 đưa ra định nghĩa mang tính nền tảng để xác định đối tượng thụ hưởng của Tuyên bố:

  • Người khuyết tật được xác định là bất kỳ cá nhân nào không thể tự mình bảo đảm một phần hoặc toàn bộ các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống cá nhân hoặc xã hội bình thường.
  • Nguyên nhân của sự hạn chế này xuất phát từ sự suy giảm về năng lực thể chất hoặc tinh thần, bất kể đó là khuyết tật bẩm sinh hay thứ phát (phát sinh trong quá trình sống).
  • Định nghĩa này tập trung vào khía cạnh chức năng và sự tương tác xã hội, làm rõ rằng khuyết tật không chỉ là vấn đề y tế mà còn là rào cản ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự lập của con người.

- Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử (Điều 2)

Điều 2 thiết lập nguyên tắc áp dụng phổ quát và bình đẳng đối với tất cả các quyền được nêu trong Tuyên bố:

  • Mọi quyền lợi được ghi nhận trong văn kiện này phải được bảo đảm cho tất cả người khuyết tật mà không có bất kỳ ngoại lệ hay sự phân biệt đối xử nào.
  • Nghiêm cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, khả năng tài chính, hoàn cảnh gia đình, hoặc bất kỳ yếu tố nào khác liên quan đến bản thân người khuyết tật hoặc gia đình họ.

- Quyền được tôn trọng nhân phẩm và có cuộc sống tử tế (Điều 3)

Điều 3 khẳng định giá trị nhân bản cốt lõi của người khuyết tật:

  • Người khuyết tật có quyền bẩm sinh được tôn trọng nhân phẩm của con người.
  • Họ có đầy đủ các quyền cơ bản như những công dân khác cùng độ tuổi.
  • Quyền quan trọng nhất được nhấn mạnh là quyền được hưởng một cuộc sống tử tế, bình thường và trọn vẹn nhất có thể, đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội phù hợp.

- Quyền dân sự và chính trị của người khuyết tật (Điều 4)

Điều 4 bảo đảm vị thế pháp lý của người khuyết tật trong đời sống chính trị - xã hội:

  • Người khuyết tật có quyền hưởng các quyền dân sự và chính trị tương tự như các công dân khác.
  • Đối với trường hợp người khuyết tật trí tuệ, nếu có bất kỳ sự hạn chế nào đối với các quyền này do tình trạng năng lực hành vi, việc hạn chế đó phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục bảo vệ pháp lý được quy định tại Điều 7 của Tuyên bố về Quyền của Người chậm phát triển trí tuệ năm 1971.
  • Quy định này nhằm ngăn ngừa mọi hành vi lạm dụng, tước đoạt quyền công dân hoặc phân biệt đối xử bất hợp pháp đối với nhóm đối tượng đặc thù này.

TUYÊN BỐ

VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT, 1975

(Được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 9/12/1975 theo Nghị quyết số 3447 (XXX)).

Đại Hội đồng,

Ghi nhớ cam kết của các Quốc gia thành viên trong Hiến chương Liên Hợp Quốc là tham gia vào các hoạt động chung và riêng trong việc hợp tác với Liên Hợp Quốc để nâng cao mức sống, việc làm đầy đủ và những điều kiện cho sự tiến bộ và phát triển kinh tế, xã hội,

Khẳng định lại lòng tin vào các quyền, tự do cơ bản của con người và theo các nguyên tắc hòa bình, lòng tin vào phẩm giá, giá trị của con người và vào công lý xã hội như Hiến chương đã công bố,

Nhắc lại những nguyên tắc của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, các Công ước quốc tế về quyền con người, Tuyên bố về quyền trẻ em và Tuyên bố về quyền của người khuyết tật về tâm thần cũng như những tiêu chuẩn đã được đề ra cho sự tiến bộ xã hội trong các Hiến chương, Công ước, Khuyến nghị và các Nghị quyết của Tổ chức Lao động quốc tế, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Y tế thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc và những tổ chức khác có liên quan,

Cũng nhắc lại Nghị quyết số 1921 (LVIII) ngày 6/5/1975 của Hội đồng Kinh tế xã hội về phòng ngừa khuyết tật và phục hồi chức năng cho người khuyết tật.

Nhấn mạnh rằng, Tuyên bố về sự tiến bộ và phát triển xã hội đã công bố sự cần thiết phải bảo vệ các quyền, đảm bảo phúc lợi và phục hồi chức năng cho những người thiệt thòi về thể chất và tâm thần,

Ghi nhớ sự cần thiết phải phòng ngừa những khuyết tật về thể chất và tâm thần, giúp đỡ người khuyết tật phát triển các khả năng của họ trong hầu hết những lĩnh vực hoạt động khác nhau và thúc đẩy tối đa sự hòa nhập của họ vào cuộc sống bình thường,

Nhận biết rằng đối với một số nước ở vào giai đoạn phát triển của họ hiện tại chỉ có thể dành một số nỗ lực hạn chế cho mục đích này,

Công bố Tuyên bố về quyền của người khuyết tật và kêu gọi tiến hành các hoạt động quốc gia và quốc tế đảm bảo rằng Tuyên bố sẽ được sử dụng làm cơ sở và khuôn khổ cho việc bảo vệ các quyền này.

1. Thuật ngữ “người khuyết tật” có nghĩa là bất cứ người nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần, những sự cần thiết của một số cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh về những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ.

2. Người khuyết tật phải được hưởng các quyền nêu ra trong Tuyên bố này. Các quyền này được dành cho tất cả những người khuyết tật mà không có một sự ngoại lệ nào và không có một sự phân loại hay phân biệt nào trên cơ sở chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay những quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tình trạng của cải, xuất thân gia đình hay bất cứ tình cảnh nào khác áp dụng với bản thân người khuyết tật hay gia đình họ.

3. Người khuyết tật có quyền được tôn trọng nhân phẩm của họ. Người khuyết tật, bất kể nguồn gốc, bản chất, mức độ nghiêm trọng của những khuyết tật hay khuyết tật của họ đều phải được hưởng những quyền cơ bản như những công dân khác cùng độ tuổi mà trước hết là quyền được hưởng một cuộc sống đầy đủ, càng bình thường và trọn vẹn càng tốt.

4. Người khuyết tật có các quyền dân sự và chính trị như những người khác; đoạn 7 của Tuyên bố về quyền của người khuyết tật về tâm thần được áp dụng trong trường hợp cần hạn chế hay loại bỏ bất kỳ quyền nào của người khuyết tật về tâm thần.

5. Người khuyết tật được quyền có những biện pháp nhằm giúp họ có khả năng trở nên tự lực cánh sinh càng nhiều càng tốt.

6. Người khuyết tật có quyền hưởng những điều trị về y tế, tâm 1ý và phục hồi chức năng, gồm cả việc lắp các bộ phận giả trên cơ thể, về phục hồi chức năng y học và xã hội, giáo dục, đào tạo và phục hồi chức năng, nghề nghiệp, trợ giúp, tư vấn, những dịch vụ sắp xếp việc làm và các dịch vụ khác để làm cho họ phát triển tối đa các khả năng, kỹ năng và thúc đẩy những quá trình hòa nhập hay tái hòa nhập xã hội của họ.

7. Người khuyết tật có quyền được hưởng sự đảm bảo về kinh tế, xã hội và có một mức sống đầy đủ. Tùy theo khả năng của họ, người khuyết tật có quyền được đảm bảo, duy trì việc làm hay tham gia vào công việc hữu ích, tạo sản phẩm, thêm thu nhập và gia nhập công đoàn.

8. Người khuyết tật được quyền có những nhu cầu đặc biệt được xem xét ở tất cả các giai đoạn của việc hoạch định chính sách kinh tế và xã hội.

9. Người khuyết tật có quyền sống cùng gia đình hay với cha mẹ, người bảo trợ của họ và có quyền tham gia vào tất cả các hoạt động xã hội sáng tạo hay vui chơi giải trí. Không người khuyết tật nào phải chịu sự đối xử phân biệt liên quan đến nơi sinh hoạt trừ khi bị đối xử khác đi do yêu cầu hoàn cảnh của người đó. Nếu như việc ăn ở của người khuyết tật ở trong một số cơ sở chuyên môn là cần thiết thì các điều kiện và môi trường sống ở đó phải giống với điều kiện sống và môi trường cuộc sống bình thường của những người cùng lứa tuổi với họ.

10. Người khuyết tật phải được bảo vệ chống 1ại các hình thức bóc lột, những quy chế và đối xử có tính chất phân biệt, lạm dụng hay giảm giá trị nhân phẩm.

11. Người khuyết tật phải được hưởng sự trợ giúp đầy đủ về pháp 1ý khi sự giúp đỡ như vậy là không thể thiếu được cho việc bảo vệ bản thân họ và tài sản của họ. Nếu có các biện pháp tố tụng chống lại họ thì thủ tục pháp lý được áp dụng phải xem xét đầy đủ đến những điều kiện thể chất và tâm thần của họ.

12. Các tổ chức của người khuyết tật có thể được tham khảo ý kiến một cách hữu ích tất cả những vấn đề về các quyền của người khuyết tật. 

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Tuyên bố về quyền người khuyết tật, 1975

Số hiệu: Khongso
Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Ngày ban hành: 09/12/1975
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Tuyên bố về quyền người khuyết tật, 1975?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký