Giới thiệu chung về Chỉ thị 09/CT-UBND
Chỉ thị 09/CT-UBND được Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành năm 2005 nhằm mục đích tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trên địa bàn tỉnh. Đây là biện pháp quản lý hành chính quan trọng nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống văn bản pháp quy do địa phương ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và ổn định an ninh trật tự tại địa phương.
Mục tiêu và yêu cầu tăng cường kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Chỉ thị đặt ra các yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan chuyên môn và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc rà soát, tự kiểm tra và xử lý các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật:
- Đảm bảo tính pháp lý: Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân các cấp và Hội đồng nhân dân ban hành phải được kiểm tra chặt chẽ về thẩm quyền, nội dung và hình thức theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
- Kịp thời phát hiện sai sót: Phát hiện nhanh chóng các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp với tình hình thực tế để kịp thời đình chỉ thi hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ.
- Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu: Xác định rõ trách nhiệm của thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị, thành phố trong việc ban hành và kiểm tra văn bản.
Nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, đơn vị và địa phương
Để triển khai hiệu quả công tác kiểm tra và xử lý văn bản, Chỉ thị 09/CT-UBND phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị:
- Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ: Là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trên địa bàn toàn tỉnh. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ, hướng dẫn các sở, ngành và địa phương thực hiện đúng quy trình kiểm tra văn bản.
- Các sở, ban, ngành cấp tỉnh: Có trách nhiệm thường xuyên tự kiểm tra các văn bản do mình tham mưu ban hành hoặc liên tịch ban hành. Phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp khi có yêu cầu kiểm tra chuyên đề hoặc xử lý văn bản có dấu hiệu vi phạm.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã: Chỉ đạo cơ quan tư pháp cùng cấp thực hiện nghiêm túc việc tự kiểm tra văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp mình ban hành; đồng thời thực hiện thẩm quyền kiểm tra văn bản của cấp dưới trực tiếp.
Tổ chức thực hiện và chế độ báo cáo, giám sát
Chỉ thị quy định rõ cơ chế phối hợp và chế độ thông tin báo cáo nhằm đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản:
- Xây dựng kế hoạch định kỳ: Các cơ quan, địa phương phải xây dựng kế hoạch kiểm tra văn bản hàng năm, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm, dễ phát sinh sai sót như đất đai, tài chính, đầu tư xây dựng và quản lý đô thị.
- Chế độ báo cáo định kỳ: Định kỳ 6 tháng và hàng năm, các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện phải tổng hợp tình hình, kết quả kiểm tra, xử lý văn bản gửi về Sở Tư pháp để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Tư pháp.
- Khen thưởng và kỷ luật: Biểu dương kịp thời các đơn vị làm tốt; đồng thời xem xét, xử lý nghiêm túc đối với các cơ quan, cá nhân thiếu trách nhiệm, để xảy ra tình trạng ban hành văn bản trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng.
| UỶ BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 09/CT-UBND | Việt Trì, ngày 17 tháng 5 năm 2005 |
CHỈ THỊ
V/V TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Thực hiện Nghị định số 135/2003/NĐ-CP, ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là Nghị định 135/2003/NĐ-CP). Thời gian qua công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và văn bản có chứa quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là văn bản) trên địa bàn tỉnh đã được quan tâm triển khai và đạt được hiệu quả bước đầu. Qua kiểm tra, một số văn bản có nội dung trái pháp luật, ban hành không đúng thẩm quyền đã được bãi bỏ, những sai sót về căn cứ pháp lý, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản đã từng bước được khắc phục, góp phần nâng cao tính hiệu lực, khả thi của văn bản.
Tuy vậy việc triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, kết quả kiểm tra văn bản chưa phản ánh đầy đủ, toàn diện chất lượng văn bản đã ban hành; việc tự kiểm tra văn bản ở nhiều địa phương, đơn vị thực hiện chưa tốt; một số Sở, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xã chưa thường xuyên gửi văn bản về cơ quan Tư pháp cấp trên để kiểm tra; một số kiến nghị xử lý văn bản trái pháp luật chậm được tiếp thu, xử lý. Bên cạnh đó nhiều cơ quan đơn vị chưa phối hợp chặt chẽ với ngành Tư pháp trong việc tổ chức thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện chưa đúng, chưa hết trách nhiệm theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quyết định 690/QĐ-UB ngày 09/4/1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành bản quy định quản lý công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại, hạn chế trên là do một số đơn vị chưa nhận thức đầy đủ và quán triệt sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, chưa coi đó là trách nhiệm, nhiệm vụ của mình nên thiếu sự quan tâm đúng mức; quy trình xây dựng, thẩm định, kiểm tra, xử lý văn bản chưa được chấp hành nghiêm chỉnh; đội ngũ cán bộ và các điều kiện đảm bảo cho công tác kiểm tra văn bản chưa đáp ứng yêu cầu.
Để tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ thị:
1. Các cấp, các ngành tiếp tục tổ chức tuyên truyền, phổ biến,quán triệt sâu sắc các nội dung, yêu cầu của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Nghị định 135/2003/NĐ-CP và các văn bản có liên quan nhằm nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm của mỗi cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong hoạt động kiểm tra, tự kiểm tra, xử lý văn bản.
2. Thực hiện tốt công tác quản lý ban hành văn bản; tự kiểm tra, xử lý văn bản.
Các Sở, ngành, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý ban hành văn bản theo lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước của mình, khi phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật hoặc không còn phù hợp kiến nghị, thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan đã ban hành để thực hiện tự kiểm tra, xử lý (đồng gửi văn bản cho Sở Tư pháp để theo dõi).
Chấn chỉnh, khắc phục tình trạng không gửi, chậm gửi văn bản để kiểm tra. Trong thời hạn chậm nhất là 03 (ba) ngày, kể từ ngày ký ban hành, văn bản phải được gửi đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra theo địa chỉ sau:
- Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh gửi văn bản do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành về Cục kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp và các tổ chức pháp chế của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền kiểm tra văn bản theo ngành, lĩnh vực để kiểm tra đồng thời gửi văn bản đến Sở Tư pháp để giúp Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tự kiểm tra văn bản theo quy định của pháp luật;
- Các sở, ngành, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp huyện gửi văn bản do mình ban hành đến sở Tư pháp; Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã gửi văn bản do mình ban hành đến Phòng Tư pháp;
- Sở Tư pháp gửi văn bản do mình ban hành đến Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Phòng Tư pháp gửi văn bản do mình ban hành đến Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Cơ quan ban hành văn bản phải thường xuyên tổ chức rà soát, tự kiểm tra các văn bản do mình ban hành, định kỳ 6 tháng, 1 năm tổng hợp báo cáo UBND và cơ quan tư pháp cấp trên. Khi có thông báo của cơ quan có thẩm quyền kết luận kiểm tra, xử lý văn bản, cơ quan đã ban hành văn bản phải khẩn trương tiến hành tự kiểm tra, xử lý theo đúng thời hạn đã quy định tại Điều 22 Nghị định 135/2003/NĐ-CP.
3. Nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan tư pháp trong việc giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác kiểm tra văn bản.
Hàng năm, cơ quan tư pháp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra văn bản ở địa phương; đôn đốc, chỉ đạo, sơ, tổng kết công tác kiểm tra văn bản; tổ chức mạng lưới thông tin, xây dựng và quản lý hệ cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc kiểm tra văn bản.
4. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản.
Tại các sở, ngành phải bố trí tối thiểu 01 công chức làm công tác pháp chế theo quy định tại Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ.
Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ xây dựng đề án sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác kiểm tra văn bản thuộc Sở trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định; phối hợp với Uỷ ban nhân dân các huyện, thành, thị và Sở Nội vụ kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản thuộc Phòng Tư pháp, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã nhằm từng bước chuẩn hoá, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ tự kiểm tra văn bản do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành.
5. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu văn bản đã ban hành tạo điều kiện để nhân dân biết, thực hiện và giám sát hoạt động ban hành văn bản.
Các sở, ngành, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xã phải tiến hành niêm yết công khai văn bản do mình ban hành tại trụ sở cơ quan và gửi cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương để thông tin tuyên truyền.
Báo Phú Thọ, Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh của các địa phương có trách nhiệm tiếp nhận, thông tin thường xuyên các văn bản mới ban hành của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp mình.
Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh đổi mới tổ chức và hoạt động xuất bản, phát hành Công báo tỉnh theo đúng Nghị định số 104/2004/ND-CP ngày 23/3/2004 của Chính phủ về Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
6. Kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản thực hiện theo quy định tại Thông tư Liên tịch số 109/2004/TTLT-BTC-BTP ngày 17/11/2004 của Liên bộ: Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí đảm bảo cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Hàng năm, căn cứ vào yêu cầu công tác, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập dự toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản tổng hợp chung trong dự toán kinh phí hoạt động thường xuyên.
Kiểm tra và xử lý văn bản là công tác rất quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh. Yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ đã phân công. Giao Sở Tư pháp hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này; định kỳ 6 tháng, 1 năm tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Tư pháp.
|
| TM.UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
- 1 Nghị định 135/2003/NĐ-CP về việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
- 2 Nghị định 104/2004/NĐ-CP về Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- 3 Nghị định 122/2004/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước
- 4 Thông tư liên tịch 109/2004/TTLT-BTC-BTP hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp ban hành
- 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2004
- 1 Chỉ thị 01/2012/CT-UBND về tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
- 2 Quyết định 1953/QĐ-UBND năm 2013 công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành đến ngày 30/6/2013 đã hết hiệu lực pháp luật
- 3 Chỉ thị 09/2014/CT-UBND tăng cường công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- 4 Chỉ thị 07/CT-UBND năm 2014 tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- 1 Nghị định 135/2003/NĐ-CP về việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
- 2 Nghị định 104/2004/NĐ-CP về Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- 3 Nghị định 122/2004/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước
- 4 Thông tư liên tịch 109/2004/TTLT-BTC-BTP hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp ban hành
- 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2004
- 6 Chỉ thị 01/2012/CT-UBND về tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
- 7 Chỉ thị 09/2014/CT-UBND tăng cường công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- 8 Chỉ thị 07/CT-UBND năm 2014 tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa