Công văn 133/1999/KHXX được Tòa án nhân dân tối cao ban hành năm 1999 nhằm hướng dẫn giải quyết một số vướng mắc, khó khăn mang tính cấp bách trong công tác xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế và hành chính. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng giúp các Tòa án địa phương thống nhất áp dụng pháp luật, nâng cao chất lượng xét xử và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự trong giai đoạn chuyển tiếp pháp luật.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản này áp dụng đối với Tòa án nhân dân các cấp, Tòa án quân sự các cấp, các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình tố tụng giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính trên phạm vi cả nước.
Nội dung trọng tâm về công tác xét xử hình sự
- Áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội: Hướng dẫn chi tiết việc áp dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự mới có lợi cho người phạm tội trong giai đoạn chuyển tiếp, bảo đảm nguyên tắc nhân đạo của pháp luật.
- Xử lý tội phạm trong thời kỳ quá độ: Hướng dẫn cụ thể về việc định tội danh, quyết định hình phạt đối với các hành vi phạm tội xảy ra trước khi Bộ luật Hình sự mới có hiệu lực nhưng được đưa ra xét xử sau đó.
Nội dung trọng tâm về giải quyết tranh chấp dân sự và đất đai
- Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất: Xác định rõ thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc thụ lý và giải quyết các tranh chấp đất đai đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ hợp pháp, phân định rõ với thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Ủy ban nhân dân các cấp.
- Tranh chấp hợp đồng dân sự và nhà ở: Hướng dẫn phương thức xử lý đối với các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước các mốc thời điểm lịch sử quan trọng, bảo đảm phù hợp với Nghị quyết của Quốc hội và tình hình thực tế tại các địa phương.
Nội dung trọng tâm về xét xử vụ án kinh tế, lao động và hành chính
- Phân định thẩm quyền giữa vụ án kinh tế và dân sự: Đưa ra các tiêu chí cụ thể để phân biệt tranh chấp hợp đồng kinh tế (nhằm mục đích lợi nhuận) và tranh chấp hợp đồng dân sự (nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng) để thụ lý đúng thẩm quyền tòa chuyên trách.
- Giải quyết khiếu kiện hành chính: Hướng dẫn trình tự, thủ tục thụ lý các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân liên quan đến quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng và cưỡng chế thu hồi đất.
Hiệu lực thi hành
Công văn 133/1999/KHXX có hiệu lực hướng dẫn nghiệp vụ ngay sau khi ban hành, làm căn cứ pháp lý quan trọng để Tòa án nhân dân các cấp thống nhất thực hiện trong hoạt động xét xử thực tế.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 133/1999/KHXX | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 1999 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 133/1999/KHXX NGÀY 26 THÁNG 11 NĂM 1999 VỀ VIỆC MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC XÉT XỬ
Kính gửi: Các Toà án nhân dân các cấp
Vừa qua, Toà án nhân dân tối cao nhận được Công văn của Toà án nhân dân tỉnh Đăclăk hỏi:
1. Trong trường hợp một Toà án chỉ có các Thẩm phán mà chưa có các chức danh Chánh án, Phó chánh án thì việc quyết định áp dụng, thay đổi, hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam được thực hiện như thế nào?
2. Trong khoảng thời gian trống giữa kết thúc nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân khoá cũ cho tới kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá mới thì Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ cũ có được tham gia xét xử không?
Về những vấn đề này Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
1. Trong trường hợp Toà án chưa có chức danh Chánh án mà có chức danh Phó chánh án thì các quyết định về tạm giam, tạm tha của Toà án sẽ do Phó chánh án ký thay Chánh án. Trong trường hợp một Toà án chưa có cả chức danh Chánh án và Phó chánh án thì: Nếu là vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện, mà vụ án này cần quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì án dụng khoản 2 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự để chuyển vụ án cho Toà án cấp tỉnh xét xử. Tuy nhiên, nếu là vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp tỉnh, thì các Thẩm phán không thể ra các quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam.
2. Toà án nhân dân tối cao xin nhắc lại một hướng dẫn của Bộ Tư pháp là: Theo tinh thần quy định tại Điều 31 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân và quy định tại Điều 6 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi), thì: khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Hội thẩm nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khoá mới bầu ra Hội thẩm nhân dân khoá mới.
Toà án nhân dân tối cao trân trọng đề nghị các Toà án nhân dân còn chưa có chức danh Chánh án, Phó chánh án khẩn trương phối hợp cùng cơ quan tư pháp và các cơ quan hữu quan tiến hành các công việc cần thiết dể sớm được bổ nhiệm các chức danh này. Các Toà án cũng cần thực hiện tốt hướng dẫn tại Công văn 1677/TP-QLTA ngày 22-9-1999 của Bộ Tư pháp "Về việc bầu Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 1999-2004" để đảm bảo công tác xét xử.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký)
|
- 1 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992
- 2 Công văn 158/TA-TKTH về tổng kết hoạt động xét xử của Tòa án các cấp do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 3 Công văn 159/TAND-PC năm 2015 về bảo đảm chỉ tiêu, chất lượng giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 1 Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 2 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992
- 3 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 1993
- 4 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1994
- 5 Công văn 158/TA-TKTH về tổng kết hoạt động xét xử của Tòa án các cấp do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 6 Công văn 159/TAND-PC năm 2015 về bảo đảm chỉ tiêu, chất lượng giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao do Tòa án nhân dân tối cao ban hành