Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Luật Tố tụng hình sự sửa đổi năm 1992 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, tập trung vào việc hoàn thiện các quy định về người làm chứng, biện pháp ngăn chặn, thủ tục trả hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án và thành phần Hội đồng xét xử.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Luật áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân các cấp; người tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, người làm chứng và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành của Bộ luật tố tụng hình sự

Luật đã thực hiện sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng và thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng:

  • Nghĩa vụ và trách nhiệm của người làm chứng: Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ bởi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án nhưng cố ý vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải. Trường hợp từ chối, trốn tránh khai báo hoặc khai báo gian dối mà không có lý do chính đáng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
  • Thẩm quyền kê biên tài sản: Các cá nhân có thẩm quyền theo quy định pháp luật được quyền ra lệnh kê biên tài sản. Riêng đối với lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự thì phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi tiến hành thi hành.
  • Áp dụng biện pháp ngăn chặn tại cấp phúc thẩm: Đối với các bị cáo đang không bị tạm giam nhưng bị tuyên phạt tù, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định bắt giam ngay lập tức, trừ các trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định miễn trừ.
  • Quyết định tạm giam khi hủy án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại: Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại hoặc xét xử lại, nếu thời hạn tạm giam bị cáo đã hết nhưng xét thấy việc tiếp tục tạm giam là cần thiết, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ra lệnh tạm giam cho đến khi Cơ quan điều tra hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án. Thời hạn chuyển hồ sơ vụ án tối đa là mười lăm ngày kể từ ngày hủy án sơ thẩm.
  • Quyết định tạm giam tại cấp giám đốc thẩm: Tương tự như cấp phúc thẩm, khi Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại, nếu thấy cần thiết phải tiếp tục tạm giam bị cáo, Hội đồng giám đốc thẩm sẽ ra lệnh tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ lý lại vụ án.

Bổ sung các điều khoản mới vào Bộ luật tố tụng hình sự

Bên cạnh việc sửa đổi, Luật cũng bổ sung các quy định mới nhằm giải quyết các vướng mắc thực tế trong quá trình tố tụng:

  • Trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 143a): Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra bổ sung khi phát hiện các trường hợp: thiếu chứng cứ quan trọng mà Viện kiểm sát không thể tự bổ sung; có căn cứ khởi tố bị can về tội khác hoặc phát hiện đồng phạm mới; hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Các yêu cầu điều tra bổ sung phải được nêu rõ ràng trong quyết định.
  • Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án (Điều 143b): Viện kiểm sát quyết định đình chỉ vụ án khi có các căn cứ pháp lý theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác (phải có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y), hoặc khi bị can bỏ trốn không rõ tung tích (phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã). Đối với vụ án có nhiều bị can, nếu căn cứ đình chỉ hoặc tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả các bị can thì có thể áp dụng riêng biệt đối với từng bị can cụ thể.
  • Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm (Điều 160a): Quy định cơ cấu Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chịu trách nhiệm điều khiển và duy trì kỷ luật nghiêm minh tại phiên tòa.

Hướng dẫn thi hành và hiệu lực pháp luật

Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết để thi hành thống nhất các nội dung của Luật này trên phạm vi cả nước.

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 5-L/CTN

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 1992

LUẬT

SỐ 5-L/CTN CỦA QUỐC HỘI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1988 và sửa đổi, bổ sung ngày 30 tháng 6 năm 1990.

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1 - Khoản 4 Điều 43 về người làm chứng được sửa đổi, bổ sung như sau:

"4. Người làm chứng đã được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập, nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng, thì có thể bị dẫn giải.

Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 242 của Bộ luật hình sự; khai gian dối thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 241 của Bộ luật hình sự."

2- Đoạn 2 khoản 1 Điều 121 về kê biên tài sản được sửa đổi như sau:

"Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành."

3- Điều 215a về việc Toà án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, được bổ sung một đoạn vào cuối điều như sau:

"Đối với bị cáo không bị tạm giam, nhưng bị phạt tù thì Toà án quyết định bắt giam ngay, trừ các trường hợp quy định tại Điều 231 của Bộ luật này."

4- Điều 222 về huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại được bổ sung khoản 4 như sau:

"4. Trong trường hợp huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Toà án cấp phúc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi cơ quan điều tra hoặc Toà án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày huỷ án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho cơ quan điều tra hoặc Toà án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung."

5- Điều 256 về huỷ bản án hoặc quyết định để điều tra lại hoặc xét xử lại được bổ sung một đoạn vào cuối điều như sau:

"Trong trường hợp huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc để xét xử lại và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Hội đồng giám đốc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà án thụ lý lại vụ án."

Điều 2: Bổ sung một số điều mới vào Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1- Điều 143a. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi qua nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy:

1. Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;

2. Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội khác hoặc có người đồng phạm khác;

3. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Những vấn đề cần được điều tra bổ sung phải được nói rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.

2- Điều 143b. Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

1. Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 89 của Bộ luật này hoặc tại Điều 16, khoản 1 Điều 48 và khoản 3 Điều 59 của Bộ luật hình sự.

2. Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong những trường hợp sau đây:

a) Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y;

b) Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu; trong trường hợp này phải yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can.

3. Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can.

3- Điều 160a. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm

Hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm gồm ba thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.

Thẩm phán chủ toạ phiên toà điều khiển và giữ kỷ luật phiên toà.

Điều 3: Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng của mình hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 22 tháng 12 năm 1992.

Lê Đức Anh

(Đã ký)

Văn bản liên quan cùng nội dung
Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992

Số hiệu: 5-L/CTN
Loại văn bản: Luật
Ngày ban hành: 22/12/1992
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Lê Đức Anh
Ngày công báo: 31/03/1993
Số công báo: Số 6
Ngày hiệu lực: 02/01/1993
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Trách nhiệm hình sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký