Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Tổng quan về Công văn 3756/TCT-CS

Công văn 3756/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hai khoản thu phát sinh tại các tổ chức tín dụng: thu phí dịch vụ bảo lãnh và hoạt động bán tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp các tổ chức tín dụng và cơ quan thuế địa phương thống nhất phương án áp dụng luật thuế, tránh các vướng mắc trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Chính sách thuế GTGT đối với dịch vụ bảo lãnh ngân hàng

Theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến hoạt động tài chính, ngân hàng, Công văn 3756/TCT-CS làm rõ các nội dung sau:

  • Bản chất của dịch vụ bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng được xác định là một hình thức cấp tín dụng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.
  • Quy định về thuế GTGT: Do hoạt động cấp tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, nên khoản thu phí dịch vụ bảo lãnh (bao gồm cả bảo lãnh trong nước và bảo lãnh cho tổ chức, cá nhân nước ngoài) do tổ chức tín dụng thực hiện thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
  • Nghĩa vụ của tổ chức tín dụng: Các tổ chức tín dụng không phải kê khai, tính và nộp thuế GTGT đối với doanh thu từ hoạt động thu phí dịch vụ bảo lãnh này.

Chính sách thuế GTGT đối với hoạt động bán tài sản bảo đảm tiền vay

Đối với việc xử lý và bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng, Công văn 3756/TCT-CS đưa ra hướng dẫn cụ thể nhằm phân biệt các trường hợp áp dụng thuế:

  • Trường hợp không chịu thuế GTGT: Tài sản bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng bán để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Người có tài sản bảo đảm hoặc tổ chức tín dụng được ủy quyền bán tài sản không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản này.
  • Điều kiện áp dụng: Việc bán tài sản phải được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm quy định tại các văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm và pháp luật về xử lý nợ xấu.
  • Trường hợp phải chịu thuế GTGT: Nếu tổ chức tín dụng nhận lại tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bên bảo đảm, sau đó tổ chức tín dụng tiếp tục mang tài sản này đi bán thương mại thông thường thì hoạt động bán tài sản này phải chịu thuế GTGT theo thuế suất quy định đối với từng loại mặt hàng cụ thể.

Hướng dẫn thực hiện và lưu ý về hóa đơn, khấu trừ thuế

Để đảm bảo thực hiện đúng quy định pháp luật, các tổ chức tín dụng cần lưu ý các nguyên tắc quản lý thuế sau:

  • Nguyên tắc lập hóa đơn: Khi thực hiện thu phí dịch vụ bảo lãnh hoặc bán tài sản bảo đảm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, tổ chức tín dụng phải lập hóa đơn theo quy định. Trên hóa đơn, dòng thuế suất và tiền thuế GTGT phải được gạch chéo hoặc ghi rõ là không chịu thuế.
  • Khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hoạt động bảo lãnh và bán tài sản bảo đảm không chịu thuế GTGT sẽ không được khấu trừ toàn bộ. Tổ chức tín dụng phải thực hiện phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ theo tỷ lệ doanh thu của hoạt động chịu thuế và không chịu thuế theo quy định hiện hành.
  • Phối hợp giám sát: Các tổ chức tín dụng có trách nhiệm lưu trữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm và cung cấp cho cơ quan thuế khi có yêu cầu thanh tra, kiểm tra để chứng minh tính hợp pháp của việc áp dụng chính sách không chịu thuế GTGT.

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 3756/TCT-CS
V/v trả lời câu hỏi tại Hội nghị đối thoại Doanh nghiệp.

Hà Nội, ngày 27 tháng 09 năm 2010

 

Kính gửi: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Về nội dung hỏi của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại Hội nghị đối thoại Doanh nghiệp năm 2010, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Câu hỏi:

Tính thống nhất giữa các văn bản trả lời của cơ quan thuế không giống nhau:

- Cục Thuế Hà Nội trả lời thu phí dịch vụ bảo lãnh chịu thuế GTGT 10%, công văn 3316/BTC-CST ngày 18/3/2010 của Bộ Tài chính thì việc phát hành thư bảo lãnh không chịu thuế GTGT. Vậy Ngân hàng áp dụng theo công văn nào?

- Phát mại tài sản thu hồi nợ của Ngân hàng theo Thông tư số 62/2002/TT-BTC ngày 18/7/2002 của Bộ Tài chính là không chịu thuế nhưng TCT và Cục Thuế địa phương lại trả lời hoạt động này chịu thuế GTGT.

Đề nghị có kênh trao đổi thông tin để trả lời thống nhất cho doanh nghiệp và có thể cải tiến Website của Tổng cục Thuế.

Trả lời:

- Bộ Tài chính đã có công văn số 3316/BTC-CST ngày 18/3/2010 hướng dẫn về thuế GTGT đối với các khoản thu dịch vụ cấp tín dụng bảo lãnh. Theo đó: “Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành và các quy định pháp luật khác có liên quan, Bộ Tài chính hướng dẫn việc áp dụng thuế GTGT đối với các khoản thu từ dịch vụ cấp tín dụng, bảo lãnh như sau:

Các khoản thu của tổ chức tín dụng về việc: xử lý trả nợ trước hạn, chậm trả nợ, cơ cấu lại nợ, quản lý khoản vay, các công việc liên quan đến giao dịch, tài sản (quản lý và trông giữ, xử lý, thay đổi, định giá tài sản đảm bảo), phát hành thư bảo lãnh thuộc quy trình cho vay, bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Các khoản thu từ dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật là loại phí mà các tổ chức tín dụng thu từ các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định tại Điều 76 Luât các tổ chức tín dụng thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng.”

Như vậy việc phát hành thư bảo lãnh thuộc quy trình cho vay, bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

- Từ ngày 01/01/2009 chính sách thuế GTGT được thực hiện theo quy định tại Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008, Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ, Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính.

Hoạt động “bán tài sản đảm bảo tiền vay để thu hồi nợ” không thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 Điều 3 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ.

Vì vậy từ ngày 01/01/2009, hoạt động “bán tài sản đảm bảo tiền vay” của các tổ chức tín dụng thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Tổ chức tín dụng khi bán tài sản đảm bảo tiền vay phải xuất hóa đơn GTGT, thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật”

- Tổng cục Thuế tiếp thu ý kiến đóng góp của đơn vị về tăng cường kênh trao đổi thông tin, cải tiến Website tạo điều kiện cho Người nộp thuế cập nhật thông tin đảm bảo việc hướng dẫn thực hiện chính sách thuế được thống nhất trong cả nước.

Tổng cục Thuế trả lời để Ngân hàng được biết.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ CST, PC-BTC;
- Vụ PC-TCT;
- Cục Thuế Hà Nội;
- Lưu VT, CS (3)

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Vũ Thị Mai

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 3756/TCT-CS về thuế giá trị gia tăng đối với thu phí dịch vụ bảo lãnh và bán tài sản bảo đảm tiền vay do Tổng cục Thuế ban hành

Số hiệu: 3756/TCT-CS
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 27/09/2010
Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
Người ký: Vũ Thị Mai
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 27/09/2010
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 3756/TCT-CS về thuế giá trị gia tăng...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký