Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Công văn 394/HTQTCT-HT năm 2017

Công văn 394/HTQTCT-HT do Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực ban hành nhằm mục đích hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ những vướng mắc mang tính thực tiễn trong quá trình đăng ký và quản lý hộ tịch tại các địa phương. Văn bản tập trung làm rõ các quy định liên quan đến đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài, xác nhận tình trạng hôn nhân, cải chính hộ tịch và thủ tục ghi chú ly hôn.

1. Hướng dẫn đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài về cư trú tại Việt Nam

Đây là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của trẻ em khi trở về Việt Nam sinh sống. Hướng dẫn chi tiết bao gồm:

  • Thẩm quyền giải quyết: Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện nơi cư trú của trẻ em thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài, chưa được đăng ký khai sinh ở nước ngoài và đã về cư trú tại Việt Nam.
  • Giấy tờ chứng minh cư trú: Người đi đăng ký khai sinh phải xuất trình các giấy tờ chứng minh trẻ em đã nhập cảnh hợp pháp và đang cư trú thực tế tại Việt Nam (như hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu kiểm chứng nhập cảnh).
  • Thỏa thuận lựa chọn quốc tịch: Trường hợp cha hoặc mẹ là công dân nước ngoài, phải có văn bản thỏa thuận của cha và mẹ về việc lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con. Nếu cha mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam không thực hiện việc đăng ký khai sinh.

2. Nghiệp vụ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Để đơn giản hóa thủ tục nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác của thông tin, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực hướng dẫn cụ thể:

  • Trách nhiệm xác minh của cơ quan hộ tịch: Trường hợp người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, UBND cấp xã nơi tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm chủ động gửi văn bản xác minh đến các địa phương nơi người đó từng cư trú trước đây.
  • Cơ chế cam đoan: Nếu quá thời hạn xác minh theo quy định mà không nhận được kết quả trả lời từ các địa phương được yêu cầu, cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung cam đoan đó.
  • Mục đích sử dụng giấy xác nhận: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải được ghi rõ mục đích sử dụng cụ thể (như để kết hôn với ai, ở đâu, hoặc để thực hiện các giao dịch dân sự, mua bán tài sản) và không được sử dụng sai mục đích đã ghi.

3. Phân biệt và thực hiện thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch

Nhằm tránh sự nhầm lẫn giữa các khái niệm trong thực tế áp dụng, công văn đưa ra các tiêu chí phân định rõ ràng:

  • Cải chính hộ tịch: Chỉ được thực hiện khi có sai sót của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch khi đăng ký trước đây. Không giải quyết cải chính đối với các trường hợp thay đổi thông tin do mong muốn chủ quan của công dân khi không có sai sót gốc.
  • Bổ sung hộ tịch: Áp dụng đối với các trường hợp thông tin hộ tịch còn thiếu, chưa được ghi nhận đầy đủ trong Sổ hộ tịch và Giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân.
  • Xác định lại dân tộc: Việc xác định lại dân tộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Dân sự, chỉ thực hiện khi có đầy đủ căn cứ chứng minh theo quy định pháp luật về việc xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ.

4. Thủ tục ghi chú ly hôn đối với các trường hợp giải quyết tại nước ngoài

Việc ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn, hủy việc kết hôn đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ghi chú ly hôn) được thực hiện như sau:

  • Đối tượng thực hiện: Công dân Việt Nam đã ly hôn ở nước ngoài về nước thường trú hoặc có yêu cầu đăng ký hộ tịch mới tại Việt Nam mà việc ly hôn trước đó chưa được ghi vào sổ hộ tịch.
  • Yêu cầu về hồ sơ: Bản sao bản án, quyết định ly hôn hoặc giấy tờ khác công nhận việc ly hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự (trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế) và dịch thuật, công chứng theo quy định.
  • Thẩm quyền: UBND cấp huyện nơi công dân Việt Nam cư trú thực hiện việc ghi chú ly hôn.

BỘ TƯ PHÁP
CỤC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 394/HTQTCT-HT
V/v hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2017

 

Kính gửi: Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu

Trả lời Công văn số 88/STP-HCTP ngày 28/02/2017 của Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu về việc hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực có ý kiến như sau:

1. Về việc xác định lại giới tính

Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về việc xác định lại giới tính không quy định việc chuyển đổi giới tính mà chỉ quy định việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Điều 12 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP quy định: các trường hợp đã xác định lại giới tính ở nước ngoài hoặc đã thực hiện ở Việt Nam trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu muốn đăng ký lại hộ tịch thì phải có giấy xác nhận đã xác định lại giới tính của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trước đó và đến các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 8 Nghị định này để được khám kiểm tra và cấp giấy chứng nhận y tế.

Qua trao đổi, Bộ Y tế cho biết hiện tại có 03 cơ sở y tế có thẩm quyền kiểm tra cấp giấy chứng nhận y tế là Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Nhi đồng 2 và Bệnh viện Nhi Trung ương.

Do đó, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đề nghị Sở Tư pháp hướng dẫn ông Võ Thành Giang (và các trường hợp có yêu cầu tương tự) đến một trong các cơ sở y tế nêu trên để được khám kiểm tra. Nếu cơ sở y tế khám và cấp giấy xác nhận đương sự xác định lại giới tính thì cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ tiếp nhận và thực hiện việc ghi vào sổ hộ tịch việc xác định lại giới tính theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật hộ tịch. Trường hợp không phải xác định lại giới tính mà là chuyển đổi giới tính thì sẽ chỉ được đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, của Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật”, trong khi đó luật về chuyển đổi giới tính chưa được ban hành nên việc chuyển đổi giới tính chưa có cơ sở pháp lý để công nhận và thực hiện đăng ký thay đổi hộ tịch, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ từ chối giải quyết.

2. Về việc hủy quyết định nhận cha, mẹ, con

Đề nghị Sở Tư pháp trên cơ sở yêu cầu của ông Hậu và căn cứ kết quả xét nghiệm ADN (trong đó chứng minh cháu Thư không phải là con đẻ của ông) báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi, hủy bỏ giá trị pháp lý của Quyết định nêu trên trong trường hợp Tòa án từ chối giải quyết yêu cầu xác định ông Nguyễn Văn Hậu không phải là cha của cháu Nguyễn Minh Thư.

Liên quan đến hồ sơ nhận cha, mẹ, con mà Sở Tư pháp thụ lý và giải quyết, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực có thêm ý kiến như sau:

Khoản 3 Điều 28 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (văn bản có hiệu lực tại thời điểm giải quyết việc nhân con của ông Hậu - năm 2010) quy định: Trong trường hợp người được nhận là con chưa thành niên thì phải có sự đồng ý của mẹ hoặc cha người đó. Nếu người được nhận là con chưa thành niên nhưng đã từ đủ chín tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của bản thân người đó.

Vào thời điểm ông Nguyễn Văn Hậu nhận con là cháu Nguyễn Minh Thư thì cháu Thư mới được 6 tuổi, tuy nhiên, trong hồ sơ nhận cha, mẹ, con không thể hiện ý kiến đồng ý của bà Nguyễn Tú Trinh (là mẹ cháu Thư), cũng không có kết quả kiểm tra, xác minh. Do đó, Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con của UBND tỉnh không bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP. Đề nghị Sở Tư pháp rút kinh nghiệm chung với các cơ quan đăng ký hộ tịch trong quá trình giải quyết hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con nói riêng và hồ sơ đăng ký hộ tịch nói chung bảo đảm đúng quy định của pháp luật.

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực trao đổi để Sở Tư pháp biết, thực hiện.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- PCT Trần Thị Lệ Hoa (để biết);
- Trang TTĐT Cục HTQTCT (để đăng tải);
- Lưu: VT (Chuyền).

CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Công Khanh

 

 

Văn bản liên quan cùng nội dung
Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 394/HTQTCT-HT năm 2017 về hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch do Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực ban hành

Số hiệu: 394/HTQTCT-HT
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 10/05/2017
Nơi ban hành: Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực
Người ký: Nguyễn Công Khanh
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 10/05/2017
Tình trạng: ● Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 394/HTQTCT-HT năm 2017 về hướng dẫn...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký