Tóm tắt Công văn 3942/CT-TTHT năm 2014 về thanh toán qua ngân hàng do Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh ban hành
Công văn 3942/CT-TTHT do Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành nhằm giải đáp và hướng dẫn các doanh nghiệp, người nộp thuế thực hiện quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (thanh toán qua ngân hàng) khi mua hàng hóa, dịch vụ. Đây là căn cứ quan trọng để xác định điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và tính chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
- Quy định chung về chứng từ thanh toán qua ngân hàng
- Các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT) bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mới đủ điều kiện được khấu trừ thuế GTGT và tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN.
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Tài khoản ngân hàng của bên mua và bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế theo đúng quy định pháp luật.
- Các trường hợp thanh toán đặc biệt được chấp nhận
- Thanh toán bù trừ công nợ: Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo hình thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra hoặc bù trừ công nợ vay, mượn tiền. Điều kiện áp dụng là hình thức này phải được quy định cụ thể trong hợp đồng và có biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của các bên.
- Thanh toán ủy quyền/qua bên thứ ba: Việc thanh toán được thực hiện theo ủy quyền của bên bán cho bên thứ ba hoặc bên mua ủy quyền cho bên thứ ba thanh toán. Yêu cầu bắt buộc là việc ủy quyền phải được quy định rõ trong hợp đồng bằng văn bản và dòng tiền thanh toán phải được thực hiện qua ngân hàng hợp lệ.
- Nguyên tắc xử lý thuế khi chưa có chứng từ thanh toán tại thời điểm kê khai
- Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, tại thời điểm kê khai thuế GTGT, nếu chưa đến thời hạn thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính chi phí được trừ.
- Đến thời hạn thanh toán theo hợp đồng hoặc khi thanh toán thực tế, nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì doanh nghiệp phải thực hiện kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã khấu trừ và loại phần chi phí tương ứng ra khỏi chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
Nội dung hướng dẫn tại Công văn 3942/CT-TTHT giúp doanh nghiệp nắm rõ thủ tục, hoàn thiện chứng từ kế toán và tuân thủ đúng pháp luật thuế trong quá trình giao dịch thanh toán.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3942/CT-TTHT | TP.Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 5 năm 2014 |
| Kính gửi: | Ngân hàng TNHH CTBC - Chi nhánh TP.HCM |
Trả lời văn thư số 13/2014/CTBCHCM-AC ngày 12/5/2014 của Ngân hàng về thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu, Cục Thuế TP có ý kiến như sau:
Căn cứ Điểm a Khoản 3 Điều 16 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng (GTGT):
“Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng
a) Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng của phía nước ngoài cho bên nhận uỷ thác và bên nhận uỷ thác phải thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua ngân hàng cho bên uỷ thác. Trường hợp bên nước ngoài thanh toán trực tiếp cho bên ủy thác xuất khẩu thì bên ủy thác phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và việc thanh toán như trên phải được quy định trong hợp đồng”.
Trường hợp Ngân hàng theo trình bày có mở dịch vụ thu hộ các khoản phải thu ở nước ngoài “quản lý tiền toàn cầu”, với dịch vụ này khách hàng Việt Nam xuất khẩu hàng hóa , dịch vụ sẽ chỉ định một công ty ở nước ngoài mở tài khoản tại chi nhánh của Ngân hàng và giúp thu hộ tiền hàng xuất khẩu, sau đó chuyển trả cho khách hàng Việt Nam, việc thanh toán này không có chứng từ xác định việc chuyển tiền từ tài khoản mở tại ngân hàng của bên mua hàng (đối tác nước ngoài) sang tài khoản của Công ty mở tại ngân hàng thì không đáp ứng điều kiện về chứng từ thanh toán qua ngân hàng để được áp dụng thuế suất 0%, do đó không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Cục Thuế TP thông báo Ngân hàng biết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này.
|
Nơi nhận | KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn 803/TCT-CS năm 2014 về điều kiện thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 2 Công văn 33486/CT-HTr năm 2014 trả lời chính sách thuế về hóa đơn tiền nước; tài khoản thanh toán qua ngân hàng; hủy hóa đơn bán hàng bị trả lại do Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 3 Công văn 11532/CT-TTHT năm 2014 về thanh toán qua ngân hàng do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- 1 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 803/TCT-CS năm 2014 về điều kiện thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 3 Công văn 33486/CT-HTr năm 2014 trả lời chính sách thuế về hóa đơn tiền nước; tài khoản thanh toán qua ngân hàng; hủy hóa đơn bán hàng bị trả lại do Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 4 Công văn 11532/CT-TTHT năm 2014 về thanh toán qua ngân hàng do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành