Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Tổng quan về Công văn 4144/LĐTBXH-LĐTL năm 2014

Công văn 4144/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc tính toán và chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Văn bản này giúp các doanh nghiệp và người lao động xác định rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ tài chính khi chấm dứt hợp đồng lao động, đảm bảo tuân thủ đúng tinh thần của Bộ luật Lao động và các nghị định hướng dẫn thi hành liên quan.

- Nguyên tắc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc

Theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó. Cụ thể được phân tích như sau:

  • Thời gian làm việc thực tế của người lao động bao gồm: Thời gian người lao động đã làm việc thực tế theo hợp đồng lao động; thời gian thử việc; thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ ngơi hàng tuần, nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng có hưởng lương theo quy định của pháp luật.
  • Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động và người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp; thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
  • Thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp: Bất kỳ khoảng thời gian làm việc nào mà người lao động đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm trước đó sẽ không được tính gộp vào thời gian làm việc để tính trợ cấp lần này.

- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc

Công văn làm rõ cách xác định mức tiền lương để làm cơ sở tính toán khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động:

  • Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
  • Tiền lương này bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được ghi trong hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng.

- Trách nhiệm và nghĩa vụ chi trả của người sử dụng lao động

Văn bản nhấn mạnh trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người lao động khi chấm dứt quan hệ lao động:

  • Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo đúng quy định pháp luật.
  • Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng lương (1/2 tháng lương) làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc. Trường hợp có tháng lẻ thì được làm tròn theo nguyên tắc có lợi cho người lao động (từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm làm việc; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc).
  • Trong thời hạn quy định kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên nhằm tránh phát sinh tranh chấp kéo dài.

- Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn áp dụng

Công văn 4144/LĐTBXH-LĐTL đóng vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng giúp tháo gỡ các tranh chấp lao động liên quan đến chế độ thôi việc tại các doanh nghiệp. Việc phân định rõ ràng giữa thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và thời gian tính trợ cấp thôi việc giúp doanh nghiệp tránh việc chi trả trùng lặp, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đối với những khoảng thời gian chưa được bảo hiểm thất nghiệp bao phủ.

BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 4144/LĐTBXH-LĐTL
V/v trợ cấp thôi việc cho người lao động

Hà Nội, ngày 04 tháng 11 năm 2014

 

Kính gửi: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Trà Vinh

Trả lời công văn số 1569/SLĐTBXH-LĐVL ngày 29/9/2014 của quý Sở về việc giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Bộ luật Lao động năm 1994 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1995, theo đó, kể từ ngày này, người lao động thôi việc ở doanh nghiệp nào thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động ở doanh nghiệp đó; khi người lao động thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.

2. Điều 31 của Bộ luật Lao động năm 1994 quy định trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với người lao động.

3. Theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm cộng cả thời gian người lao động làm việc cho mình và thời gian làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó để tính trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.

Căn cứ các quy định nêu trên và nội dung công văn số 1569/SLĐTBXH-LĐVL của quý Sở thì hệ thống thoát nước thuộc Công ty Công trình đô thị Trà Vinh thuộc thị xã Trà Vinh (nay là thành phố Trà Vinh) được chuyển giao sang Công ty Cấp thoát nước Trà Vinh (nay là Công ty TNHH một thành viên cấp thoát nước Trà Vinh) theo Quyết định số 1821/QĐ-UBND ngày 30/11/2007 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh. Vì vậy, đề nghị quý Sở kiểm tra, rà soát lại quá trình chuyển giao hệ thống thoát nước thuộc Công ty Công trình đô thị Trà Vinh. Trường hợp người lao động có tên trong phương án chuyển giao sang Công ty cấp thoát nước Trà Vinh thì Công ty cấp thoát nước Trà Vinh có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại Điều 31 của Bộ luật Lao động năm 1994Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên để chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.

Trường hợp người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty Công trình đô thị Trà Vinh trước khi chuyển sang Công ty cấp thoát nước Trà Vinh thì quý Sở hướng dẫn người lao động liên hệ với Công ty Công trình đô thị Trà Vinh để được chi trả trợ cấp thôi việc đối với thời gian người lao động làm việc tại Công ty Công trình đô thị Trà Vinh.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời để quý Sở biết và hướng dẫn người lao động và doanh nghiệp thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- TT. Phạm Minh Huân (để b/c);
- Lưu: VT, Vụ LĐTL.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG




Tống Thị Minh

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 4144/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 về trợ cấp thôi việc cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành

Số hiệu: 4144/LĐTBXH-LĐTL
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 04/11/2014
Nơi ban hành: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Người ký: Tống Thị Minh
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 04/11/2014
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 4144/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 về trợ cấp...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký