Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tại Việt Nam có phát sinh hoạt động cung cấp dịch vụ cho thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài. Đồng thời, đây cũng là căn cứ hướng dẫn nghiệp vụ cho các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quá trình thanh tra, kiểm tra và quyết toán thuế.
Điều kiện áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với dịch vụ xuất khẩu
- Dịch vụ xuất khẩu được xác định là dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức ở nước ngoài và được tiêu dùng ngoài Việt Nam; hoặc cung cấp cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan và được tiêu dùng trong khu phi thuế quan.
- Để được áp dụng mức thuế suất ưu đãi 0%, cơ sở kinh doanh cung cấp dịch vụ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nghiêm ngặt về hồ sơ pháp lý và chứng từ thanh toán.
Các hồ sơ, chứng từ bắt buộc để chứng minh dịch vụ xuất khẩu
- Hợp đồng dịch vụ: Phải có hợp đồng ký kết giữa cơ sở kinh doanh tại Việt Nam với tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan theo đúng quy định của Luật Thương mại và các văn bản pháp luật liên quan.
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt: Phải có chứng từ thanh toán tiền dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng. Các trường hợp thanh toán khác được coi là thanh toán qua ngân hàng phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật thuế GTGT hiện hành.
- Cam kết tiêu dùng ngoài Việt Nam: Dịch vụ thực tế phải được tiêu dùng hoàn toàn ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong khu phi thuế quan.
Các trường hợp không được áp dụng thuế suất 0%
- Các dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài nhưng địa điểm tiêu dùng hoặc thực hiện dịch vụ diễn ra tại Việt Nam thì không được áp dụng thuế suất 0% mà phải chịu mức thuế suất thông thường (thường là 10%).
- Một số dịch vụ cụ thể không được áp dụng thuế suất 0% bao gồm: dịch vụ cung cấp gắn liền với bất động sản tại Việt Nam; dịch vụ quảng cáo, du lịch lữ hành, dịch vụ ăn uống, khách sạn được tiêu dùng tại Việt Nam; dịch vụ thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật, văn hóa, giáo dục, đào tạo tổ chức tại Việt Nam.
Trách nhiệm của cơ quan thuế và người nộp thuế
- Đối với người nộp thuế: Doanh nghiệp có nghĩa vụ tự xác định, kê khai và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các hồ sơ, chứng từ chứng minh dịch vụ cung cấp thực tế được tiêu dùng ngoài Việt Nam.
- Đối với cơ quan thuế: Các Cục Thuế địa phương có trách nhiệm tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hồ sơ khai thuế, hoàn thuế của doanh nghiệp. Trường hợp phát hiện doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện nhưng vẫn áp dụng thuế suất 0% thì thực hiện truy thu thuế và xử phạt theo quy định.
Hiệu lực thi hành
Công văn 4942/TCT-CS mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ dựa trên các quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 209/2013/NĐ-CP và Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính. Các nội dung hướng dẫn tại công văn này được áp dụng thống nhất cho các kỳ tính thuế phát sinh theo quy định pháp luật hiện hành.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4942/TCT-CS | Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2010 |
Kính gửi: Công ty CP CONINCO máy xây dựng và công trình công nghiệp
(P516 Toà nhà CONINCO, số 4 Tôn Thất Tùng, phường Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội)..
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 151/2010/CV-CONINCO-MI ngày 15/9/2010 của Công ty CP CONINCO máy xây dựng và công trình công nghiệp (sau đây gọi tắt là Công ty) về thuế GTGT đối với dịch vụ cung cấp cho tổ chức ở nước ngoài không có cơ sở thường trú ở Việt Nam, không phải là người nộp thuế GTGT ở Việt Nam (dịch vụ xuất khẩu). Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Về vướng mắc của Công ty, Tổng cục Thuế đã có công văn số 2730/TCT-CS ngày 26/7/2010 và công văn số 3400/TCT-CS ngày 1/9/2010, Cục Thuế Hà Nội có công văn số 16104/CT-HTr ngày 1/9/2010 hướng dẫn cụ thể.
Về ý kiến của Công ty nếu thực hiện theo hướng dẫn tại công văn số 16104/CT-HTr của Cục Thuế thành phố Hà Nội nêu trên thì đối tác nước ngoài phải nộp hai lần thuế GTGT ở Việt Nam, Tổng cục Thuế giải thích rõ như sau:
Trong trường hợp xác định đối tác nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam, dịch vụ của Công ty cung cấp cho đối tác nước ngoài không đủ điều kiện để áp dụng thuế suất thuế GTGT là 0% đối với dịch vụ xuất khẩu mà phái áp dụng thuế GTGT tương ứng như kinh doanh nội địa theo hướng dẫn tại công văn số 16104/CT-HTr của Cục Thuế Hà Nội thì cũng không phải là thuế GTGT tính hai lần cho một hoạt động vì:
Hoạt động thứ nhất là dịch vụ thiết kế của Công ty cung cấp cho đối tác nước ngoài.
Hoạt động thứ hai là dịch vụ đối tác nước ngoài cung cấp cho Công ty cổ phần xi măng Hà Tiên đã thực hiện dự án xây dựng Nhà máy xi măng Hà Tiên2. Đối với dịch vụ này, nhà thầu nước ngoài thực hiện nộp thuế nhà thầu (thuế GTGT, TNDN) tại Việt Nam.
Như vậy, thuế GTGT áp dụng đối với hai hoạt động khác nhau, không phải một hoạt động chịu thuế GTGT hai lần.
Căn cứ quy định của chính sách thuế GTGT và thuế nhà thầu, trường hợp đối tác nước ngoài (nhà thầu nước ngoài) đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật để nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và có đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ với cơ quan thuế thì được kê khai, khấu trừ đối với số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào.
Trường hợp nhà thầu nước ngoài thực hiện nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT thì doanh nghiệp VN đăng ký với cơ quan thuế để thực hiện nộp thay thuế cho nhà thầu nước ngoài. Phương pháp này xác định số thuế GTGT phải nộp dựa trên giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ và thuế suất thuế GTGT (giá trị gia tăng được xác định trên cơ sở doanh thu tính thuế GTGT và tỷ lệ phần trăm trên doanh thu tính thuế GTGT). Nhà thầu nước ngoài không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào khi nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp nêu trên. Doanh nghiệp Việt Nam được kê khai, khấu trừ đối với số thuế GTGT đã nộp thay cho nhà thầu nước ngoài.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty CP CONINCO máy xây dựng và công trình công nghiệp biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |