Giới thiệu về Công văn 544/TCT-CS năm 2014
Công văn 544/TCT-CS được ban hành bởi Tổng cục Thuế nhằm hướng dẫn và giải đáp các vướng mắc liên quan đến điều kiện thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng giúp doanh nghiệp thực hiện đúng các thủ tục để được áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 0% và được hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa xuất khẩu.
Quy định chung về chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu, doanh nghiệp phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đáp ứng các điều kiện sau:
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng là chứng từ chứng minh tiền được chuyển từ tài khoản của phía nước ngoài (bên mua) sang tài khoản của bên xuất khẩu (bên bán) mở tại ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
- Thông tin trên chứng từ thanh toán phải khớp với các thông tin trên hợp đồng xuất khẩu, hóa đơn thương mại và tờ khai hải quan.
- Thời hạn thanh toán phải tuân thủ theo đúng thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu hoặc các phụ lục hợp đồng đính kèm.
Các trường hợp thanh toán đặc biệt được chấp nhận
Công văn cũng làm rõ một số trường hợp thanh toán đặc biệt vẫn được coi là thanh toán qua ngân hàng nếu đáp ứng đủ các điều kiện đi kèm:
- Thanh toán thông qua bên thứ ba: Việc thanh toán được thực hiện bởi một bên thứ ba được chỉ định bởi phía nước ngoài. Trường hợp này phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng xuất khẩu hoặc phụ lục hợp đồng. Đồng thời, chứng từ thanh toán phải thể hiện rõ việc bên thứ ba chuyển tiền thay cho bên mua nước ngoài.
- Thanh toán bằng hình thức bù trừ công nợ: Doanh nghiệp thực hiện bù trừ giữa giá trị hàng hóa xuất khẩu với giá trị hàng hóa nhập khẩu hoặc các khoản nợ khác với cùng một đối tác nước ngoài. Việc bù trừ này phải được thỏa thuận bằng văn bản (hợp đồng hoặc biên bản đối chiếu công nợ) và có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với phần chênh lệch (nếu có).
- Thanh toán từ tài khoản vãng lai của bên mua nước ngoài: Tiền thanh toán được chuyển từ tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài mở tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Hệ quả pháp lý khi không đáp ứng điều kiện thanh toán qua ngân hàng
Trong trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa nhưng không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng hoặc chứng từ không hợp lệ, việc xử lý thuế sẽ được thực hiện như sau:
- Doanh nghiệp không được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với doanh thu xuất khẩu đó.
- Không được khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào tương ứng của hàng hóa, dịch vụ dùng cho việc sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu không đủ điều kiện thanh toán qua ngân hàng.
- Doanh nghiệp phải thực hiện kê khai, tính thuế GTGT đầu ra theo mức thuế suất quy định đối với hàng hóa tiêu thụ nội địa hoặc không được hoàn thuế nhưng được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ.
Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp
Để tránh rủi ro bị truy thu thuế hoặc từ chối hoàn thuế GTGT, các doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý:
- Kiểm tra kỹ lưỡng các điều khoản thanh toán trong hợp đồng xuất khẩu, đảm bảo tính thống nhất giữa hợp đồng, hóa đơn và chứng từ thanh toán thực tế.
- Khi phát sinh các phương thức thanh toán phức tạp (như thanh toán qua bên thứ ba hoặc bù trừ công nợ), cần lập đầy đủ phụ lục hợp đồng và biên bản đối chiếu có chữ ký xác nhận của các bên liên quan trước khi thực hiện thanh toán.
- Thường xuyên cập nhật các hướng dẫn mới từ cơ quan thuế để kịp thời điều chỉnh quy trình hạch toán và lưu trữ hồ sơ chứng từ.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 544/TCT-CS | Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2014 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 3655/CT-KTT1 ngày 23/12/2013 và công văn số 2832/CT-KTrT1 ngày 01/11/2012 của Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi nêu vướng mắc về việc thanh toán quan ngân hàng của hàng xuất khẩu. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại tiết c Điểm 1.3 Mục III Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
"- Các trường hợp thanh toán dưới đây cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng:
…
+ Trường hợp phía nước ngoài yêu cầu bên thứ 3 là tổ chức ở Việt Nam thanh toán bù trừ công nợ với phía nước ngoài bằng thực hiện thanh toán qua ngân hàng số tiền phía nước ngoài phải thanh toán cho bên xuất khẩu và việc yêu cầu thanh toán bù trừ công nợ nêu trên có quy định trong trường hợp xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng - nếu có) và có chứng từ thanh toán là giấy báo có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản bên thứ 3, đồng thời bên xuất khẩu phải xuất trình bản đối chiếu công nợ có xác nhận của bên nước ngoài và bên thứ 3…"
Căn cứ quy định nêu trên và theo trình bày của Cục Thuế, Công ty Thành An (Bên bán) ký hợp đồng số 01-2012/2011 ngày 21/6/2010 với bên nhập khẩu (Bên mua) là Công ty ScanCom International A/S hoặc Công ty THNN MTV TM ScanCom Á Châu. Tại điểm 5.10 Điều 5 của Hợp đồng quy định: "Trong trường hợp Bên Bán không thể trả đúng thời hạn tiền gỗ mà họ mua từ Scancom Á Châu Bên Bán chấp nhận cho Bên Mua (ScanCom International hoặc ScanCom Á Châu) tiến hành việc thanh toán bằng cách cấn trừ trực tiếp giữa 4 bên (Công ty ScanCom International, ScanCom Á Châu, ScanCom Việt Nam và Bên Bán) số tiền gỗ mà Bên Bán mua của ScanCom Á Châu". Thực hiện Hợp đồng nêu trên, Công ty Thành An đã xuất khẩu hàng hóa (bàn ghế) cho Công ty Scancom International nước ngoài, doanh thu xuất khẩu gần 1,5 triệu USD, trong đó có 443.038,79 trị giá hàng xuất khẩu được thanh toán cấn trừ công nợ với số tiền nợ do Công ty Thành An mua gỗ của Công ty TNHH MTV Scancom Á Châu (Công ty tại Khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương, Việt Nam). Công ty Thành An có Biên bản bù trừ ngày 25/5/2011 xác định bù trừ giữa Công ty Scancom International và Công ty TNHH MTV TM Sacncom Á Châu; Biên bản đối chiếu, bù trừ công nợ lập ngày 30/9/2011 giữa Công ty TNHH MTV TM Scancom Á Châu tại Quy Nhơn với Công ty Thành An xác nhận số tiền đã bù trừ 443.038,79 USD. Đề nghị Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi trong công tác quản lý thực hiện theo dõi phân tích cụ thể các giao dịch thực tế về mua bán (thể hiện trên sổ sách kế toán, lưu chuyển tiền tệ…) để xác định xem có phản ánh đúng thực chất kinh doanh và các hoạt động mua bán hay chỉ là hoạt động gia công, từ đó đảm bảo xác định các nghĩa vụ thuế phù hợp (đặc biệt liên quan đến hoàn thuế GTGT, thuế TNDN). Nếu việc xuất khẩu hàng hóa được Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi qua kiểm tra xác thực, các đơn vị có cam kết và chịu trách nhiệm về tính chính xác của Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi chấp nhận việc thanh toán hàng xuất khẩu như Công ty TNHH Thành An đã thực hiện là thanh toán qua ngân hàng để xem xét, khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn 1833/TCT-CS về chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu do Tổng cục Thuế ban hành
- 2 Công văn 2697/TCT-KK về điều kiện thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu do Tổng cục Thuế ban hành
- 3 Công văn 14281/BTC-CST về thủ tục thanh toán qua ngân hàng của hàng hóa xuất khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Công văn 3949/TCT-CS năm 2014 khấu trừ thuế giá trị gia tăng thanh toán trực tiếp cho bên thứ ba do Tổng cục Thuế ban hành
- 1 Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 1833/TCT-CS về chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu do Tổng cục Thuế ban hành
- 3 Công văn 2697/TCT-KK về điều kiện thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu do Tổng cục Thuế ban hành
- 4 Công văn 14281/BTC-CST về thủ tục thanh toán qua ngân hàng của hàng hóa xuất khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 5 Công văn 3949/TCT-CS năm 2014 khấu trừ thuế giá trị gia tăng thanh toán trực tiếp cho bên thứ ba do Tổng cục Thuế ban hành