Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu về Công văn 573/CT-TTHT năm 2015

Công văn 573/CT-TTHT do Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành năm 2015 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) liên quan đến các giao dịch ủy quyền định đoạt bất động sản. Văn bản này nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tế, giúp người nộp thuế và cơ quan thuế các cấp xác định đúng bản chất giao dịch để áp dụng nghĩa vụ thuế phù hợp, tránh thất thu ngân sách nhà nước.

Nội dung cốt lõi và hướng dẫn chi tiết của Công văn 573/CT-TTHT

Công văn tập trung phân tích và hướng dẫn cách xác định nghĩa vụ thuế TNCN dựa trên bản chất của từng loại hợp đồng ủy quyền bất động sản, cụ thể như sau:

  • Trường hợp ủy quyền đại diện thực hiện thủ tục: Khi cá nhân sở hữu bất động sản làm hợp đồng ủy quyền cho cá nhân khác thay mặt mình thực hiện các thủ tục hành chính, ký kết hợp đồng chuyển nhượng và nhận tiền thanh toán theo đúng ý chí của người ủy quyền, thì người nộp thuế TNCN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vẫn là người ủy quyền (chủ sở hữu tài sản).
  • Nghĩa vụ thuế đối với khoản thù lao ủy quyền: Nếu trong hợp đồng ủy quyền có thỏa thuận về khoản thù lao (tiền công) mà người được ủy quyền nhận được từ việc thực hiện công việc ủy quyền, khoản thu nhập này được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Người được ủy quyền có trách nhiệm kê khai và nộp thuế TNCN đối với phần thù lao này theo quy định hiện hành.
  • Trường hợp ủy quyền có bản chất là chuyển nhượng bất động sản: Đối với các hợp đồng ủy quyền định đoạt bất động sản mà người được ủy quyền có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt (bao gồm quyền bán, tặng cho, thế chấp) và được hưởng toàn bộ lợi ích tài chính từ việc định đoạt đó mà không phải hoàn trả lại cho người ủy quyền, cơ quan thuế sẽ xem xét bản chất thực tế để xác định đây là giao dịch chuyển nhượng bất động sản. Trong trường hợp này, nghĩa vụ thuế TNCN sẽ phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng theo quy định pháp luật.
  • Căn cứ pháp lý áp dụng: Hướng dẫn tại công văn dựa trên các quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai và Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Ý nghĩa và tác động của văn bản

Công văn 573/CT-TTHT mang lại sự minh bạch trong việc áp dụng luật thuế đối với các giao dịch dân sự về bất động sản. Văn bản giúp người dân nhận thức rõ ranh giới giữa việc ủy quyền hợp pháp và hành vi lợi dụng hợp đồng ủy quyền để trốn thuế chuyển nhượng bất động sản, từ đó hạn chế tối đa các rủi ro pháp lý và tranh chấp phát sinh sau này.

TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ TP HỒ CHÍ MINH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 573/CT-TTHT
V/v: thuế thu nhập cá nhân

TP.Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 01 năm 2015

 

Kính gửi:

Công ty Cổ phần L & A
Địa chỉ: 19M Nguyễn Hữu Cảnh, Phường 19, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
MST: 0302269938

 

Trả lời văn bản số 05/LA/2014 ngày 30/12/2014 của Công ty về thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Cục Thuế TP có ý kiến như sau:

Căn cứ Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN:

- Tại Điểm đ.2, Khoản 2, Điều 2 quy định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công bao gồm:

“đ.2) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:

...

Khoản tiền phí mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác, tiền đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động đối với những sản phẩm bảo hiểm có tích lũy về phí bảo hiểm.”

- Tại Khoản 6, Điều 7 quy định căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công:

“Căn cứ tính thuế đối với tiền tích lũy mua bảo hiểm không bắt buộc, tiền tích lũy đóng quỹ hưu trí tự nguyện là khoản tiền phí tích luỹ mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác, tiền tích luỹ đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện, do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động và tỷ lệ khấu trừ 10%.

Trước khi trả tiền bảo hiểm, tiền lương hưu cho cá nhân, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty quản lý quỹ hưu trí tự nguyện có trách nhiệm khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí tích luỹ, tiền tích lũy đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện tương ứng với phần người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

Doanh nghiệp bảo hiểm, công ty quản lý quỹ hưu trí tự nguyện có trách nhiệm theo dõi riêng phần phí bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác, tiền tích luỹ đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động để làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.”

- Tại Điểm b, Khoản 2, Điều 8 quy định thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công:

“Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế.

Riêng thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản tiền phí mua sản phẩm bảo hiểm có tích lũy theo hướng dẫn tại điểm đ.2, khoản 2, Điều 2 Thông tư này là thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm, công ty quản lý quỹ hưu trí tự nguyện trả tiền bảo hiểm.”

Căn cứ theo quy định trên:

Khoản tiền phí mua bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn cho người lao động (là những sản phẩm bảo hiểm tự nguyện không có tích lũy về phí bảo hiểm) do người sử dụng lao động đóng cho người lao động phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động. Công ty có trách nhiệm tổng hợp toàn bộ thu nhập được chi trả trong tháng của người lao động bao gồm cả khoản phí mua bảo hiểm nêu trên để tính, khấu trừ, nộp thuế TNCN theo quy định.

Đối với khoản tiền mua phí bảo hiểm có tính tích luỹ do người sử dụng lao động đóng cho người lao động chưa phải tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công để tính thuế TNCN. Công ty Bảo hiểm khi chi tiền bảo hiểm cho người lao động phải có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền bảo hiểm tích luỹ đóng góp người lao động.

Cục Thuế TP thông báo để Công ty biết và thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- CCT Q.Bình Thạnh;
- Phòng PC;
- Lưu: VT, TTHT.
47-1205/2015-pbk

KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG




Trần Thị Lệ Nga

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 573/CT-TTHT năm 2015 về thuế thu nhập cá nhân do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành

Số hiệu: 573/CT-TTHT
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 19/01/2015
Nơi ban hành: Cục thuế TP Hồ Chí Minh
Người ký: Trần Thị Lệ Nga
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 19/01/2015
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 573/CT-TTHT năm 2015 về thuế thu nhậ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký