Công văn về khai báo đăng ký kinh doanh và kê khai nộp thuế là văn bản hướng dẫn các nội dung quan trọng liên quan đến thủ tục hành chính thuế và đăng ký kinh doanh đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do các thông tin về số hiệu, cơ quan ban hành, ngày ban hành và ngày áp dụng chưa được xác định cụ thể, văn bản tập trung hướng dẫn các nguyên tắc cốt lõi nhằm đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế trong quá trình gia nhập và hoạt động trên thị trường.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Văn bản điều chỉnh các hành vi liên quan đến việc khai báo thông tin đăng ký doanh nghiệp và thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đối với ngân sách nhà nước. Đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh chuẩn bị thành lập hoặc đang hoạt động kinh doanh thuộc diện phải đăng ký và nộp thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nội dung cốt lõi về đăng ký kinh doanh và kê khai thuế
Nội dung hướng dẫn tập trung vào việc chuẩn hóa quy trình phối hợp giữa đăng ký kinh doanh và quản lý thuế, cụ thể bao gồm các điểm sau:
- Khai báo đăng ký kinh doanh: Các tổ chức, cá nhân khi thành lập cơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy đủ thủ tục đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền. Thông tin khai báo phải đảm bảo tính trung thực, chính xác về ngành nghề, vốn điều lệ, địa chỉ trụ sở và người đại diện theo pháp luật.
- Kê khai thuế ban đầu: Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, chủ thể kinh doanh phải thực hiện thủ tục khai thuế ban đầu với cơ quan thuế quản lý trực tiếp, bao gồm việc đăng ký phương pháp tính thuế và thông báo sử dụng hóa đơn.
- Nghĩa vụ kê khai và nộp thuế định kỳ: Người nộp thuế có trách nhiệm tự tính, tự khai và tự nộp các loại thuế phát sinh (như thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) theo đúng kỳ hạn quy định (tháng, quý hoặc năm).
- Trách nhiệm lưu trữ và giải trình: Doanh nghiệp và hộ kinh doanh phải thiết lập hệ thống sổ sách kế toán, lưu trữ đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp để phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra và quyết toán thuế của cơ quan quản lý có thẩm quyền.
Hiệu lực thi hành
Hiện tại, tình trạng hiệu lực và ngày áp dụng cụ thể của công văn này chưa được xác định rõ ràng. Người nộp thuế cần chủ động đối chiếu với các quy định hành chính hiện hành của Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý thuế để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 11-TC/TCT | Hà Nội, ngày 03 tháng 1 năm 1991 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 11-TC/TCT NGÀY 03-01-1991 VỀ KHAI BÁO ĐĂNG KÝ KINH DOANH VỀ KÊ KHAI NỘP THUẾ
I- THUẾ DOANH THU VÀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
Theo Điều 6 Nghị định số 351-HĐBT ngày 2 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật thuế doanh thu và Điều 7 Nghị định số 352-HĐBT ngày 2 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thì các cơ sở kinh doanh phải kê khai đăng ký về thuế với cơ quan thuế tại nơi trực tiếp thu tiền bán sản phẩm, vật tư hàng hoá tiền công, dịch vụ v.v... Cụ thể.
- Các tổ chức kinh doanh hạch toán toàn ngành có các đơn vị kinh doanh trực thuộc thì đơn vị trực thuộc phải đăng ký kê khai và nộp thuế doanh thu (hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt) tại cơ quan thuế, nơi đơn vị trực tiếp thu tiền bán sản phẩm, vật tư hàng hoá tiền công, dịch vụ...
- Các Tổng công ty, Công ty, xí nghiệp quốc doanh hạch toán độc lập có các đơn vị hạch toán phụ thuộc (kể cả cửa hàng bán giới thiệu sản phẩm) ở các địa phương khác thì các đơn vị trực thuộc phải đăng ký kê khai và nộp thuế tại Cục thuế tỉnh, thành phố nơi đơn vị trực tiếp thu tiền bán sản phẩm, vật tư hàng hoá, tiền công, dịch vụ...
- Các hợp tác xã, tổ sản xuất, xí nghiệp tư nhân có các chi nhánh hạch toán phụ thuộc ở địa phương khác (tỉnh, thành phố, quận, huyện... )thì các chi nhánh phải đăng ký kê khai và nộp thuế với cơ quan thuế, nơi chi nhánh trực tiếp thu tiền bán sản phẩm, vật tư hàng hoá, tiền công dịch vụ...
II- THUẾ LỢI TỨC
1. Theo Điều 1 Nghị định số 353-HĐBT ngày 2 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật thuế lợi tức thì: Đối tượng nộp thuế lợi tức là các tổ chức kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập.
Như vậy là: các tổ chức hạch toán toàn ngành, các Tổng Công ty, Công ty và xí nghiệp hạch toán độc lập có trách nhiệm kê khai và nộp thuế lợi tức về toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngành với Cục thuế tại địa phương, nơi đơn vị đóng trụ sở chính theo chế độ hiện hành.
2. Cơ quan thuế quản lý thu thuế doanh thu (hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt) đối với các đơn vị hạch toán phụ thuộc, ngoài việc kiểm tra thu thuế doanh thu và thuế tiêu thụ đặc biệt còn có trách nhiệm kiểm tra xác nhận và nhận xét về những chi phí thực tế hợp lý của đơn vị và gửi về cho cơ quan thuế, nơi thu thuế lợi tức của các tổ chức kinh doanh hạch toán toàn ngành các Tổng Công ty, công ty, xí nghiệp hạch toán độc lập để có căn cứ kiểm tra tính thuế lợi tức.
3. Khi quyết toán các tổ chức kinh doanh hạch toán toàn ngành các Tổng Công ty, công ty, xí nghiệp hạch toán độc lập phải kèm theo quyết toán của các đơn vị trực thuộc có xác nhận của cơ quan thuế địa phương.
Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1991 trong quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc thì làm việc với Tổng cục thuế để giải quyết.
|
| Phan Văn Dĩnh (Đã ký) |
- 1 Nghị định 351-HĐBT năm 1990 Hướng dẫn Luật Thuế doanh thu do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Nghị định 352-HĐBT năm 1990 Hướng dẫn Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Nghị định 353-HĐBT Hướng dẫn Luật Thuế lợi tức do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4 Thông tư 58-TC/TCT năm 1990 thực hiện việc kê khai đăng ký về thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 5 Công văn số 221TCT/DNNN về việc căn cứ kê khai nộp thuế và hạch toán doanh thu hàng xuất khẩu do Tổng cục Thuế ban hành