Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1983 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành (được ký bởi Chủ tịch Trường Chinh) là văn bản pháp lý quan trọng quy định về nghĩa vụ đóng góp của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, nhằm điều chỉnh chính sách thuế nông nghiệp phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội thời kỳ mới.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Pháp lệnh áp dụng đối với mọi tổ chức và cá nhân có hoạt động sử dụng đất nông nghiệp hoặc các loại đất khác vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Đất ở của hộ gia đình được loại trừ và không phải chịu thuế nông nghiệp theo quy định này.

Căn cứ tính thuế nông nghiệp

  • Đối với đất trồng cây hàng năm: Thuế được tính dựa trên diện tích và hạng đất cụ thể.
  • Đối với đất vườn và đất trồng cây lâu năm: Thuế được tính dựa trên diện tích và sản lượng hàng năm, hoặc giá trị sản lượng hàng năm của từng loại cây trồng.
  • Hình thức thu thuế: Thuế nông nghiệp chủ yếu được thu bằng thóc. Việc thay thế thu bằng các loại nông sản khác hoặc bằng tiền mặt do Hội đồng Bộ trưởng quy định cụ thể.

Chính sách ưu đãi đối với đất khai hoang, phục hóa và định canh định cư

  • Đất khai hoang: Được miễn thuế nông nghiệp từ 3 đến 5 năm kể từ vụ thu hoạch đầu tiên.
  • Đất phục hóa: Được miễn thuế nông nghiệp từ 1 đến 3 năm kể từ vụ thu hoạch đầu tiên.
  • Đất thuộc vùng kinh tế mới: Nếu đời sống và sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định kéo dài thời hạn miễn thuế thêm không quá 5 năm đối với đất khai hoang và không quá 3 năm đối với đất phục hóa.
  • Đất miền núi và vùng rẻo cao: Đối với đồng bào mới chuyển sang định canh, định cư hoặc vùng có điều kiện sản xuất đặc biệt khó khăn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thời hạn chưa phải chịu thuế phù hợp với thực tế.

Phân hạng đất và định suất thuế đối với đất trồng cây hàng năm

Đất trồng cây hàng năm được phân thành 7 hạng dựa trên độ phì của đất và điều kiện tưới tiêu, thể hiện qua năng suất trung bình hàng năm trong điều kiện canh tác bình thường:

  • Hạng 1: Năng suất từ 50 kg thóc trở lên trên 100 mét vuông.
  • Hạng 2: Năng suất từ 40 kg đến dưới 50 kg thóc trên 100 mét vuông.
  • Hạng 3: Năng suất từ 30 kg đến dưới 40 kg thóc trên 100 mét vuông.
  • Hạng 4: Năng suất từ 25 kg đến dưới 30 kg thóc trên 100 mét vuông.
  • Hạng 5: Năng suất từ 20 kg đến dưới 25 kg thóc trên 100 mét vuông.
  • Hạng 6: Năng suất từ 15 kg đến dưới 20 kg thóc trên 100 mét vuông.
  • Hạng 7: Năng suất dưới 15 kg thóc trên 100 mét vuông.

Định suất thuế tính bằng ki-lô-gam thóc trên 100 mét vuông được áp dụng khác nhau giữa các khu vực xã đồng bằng, xã trung du và xã miền núi đối với từng hạng đất. Đất trồng cây dược liệu đặc biệt sẽ chịu thuế theo quy định riêng. Bảng phân hạng đất sau khi được phê duyệt sẽ được dùng làm căn cứ tính thuế trong thời hạn 5 năm.

Thuế đối với đất vườn và đất trồng cây lâu năm

Thuế được tính theo tỷ lệ phần trăm trên sản lượng hoặc giá trị sản lượng hàng năm tùy thuộc vào loại cây trồng:

  • Cây lấy gỗ và cây lấy lá: Áp dụng mức thuế suất 8%.
  • Cây ăn quả: Áp dụng mức thuế suất từ 10% đến 30% (mức cụ thể do Hội đồng Bộ trưởng quy định dựa trên quy mô vườn cây của từng hộ).
  • Cây công nghiệp lâu năm và các loại cây khác: Áp dụng mức thuế suất 12%.

Quy định thuế đối với các đối tượng sử dụng đất đặc thù

  • Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp: Tính thuế theo các quy định chung về phân hạng đất và tỷ lệ thuế vườn, cây lâu năm. Phần đất giao cho xã viên làm kinh tế phụ gia đình cũng áp dụng mức thuế tương tự.
  • Nông trường và trạm, trại quốc doanh: Không áp dụng thuế nông nghiệp mà thực hiện theo chế độ giao nộp sản phẩm và các khoản thu quốc doanh khác. Tuy nhiên, phần đất giao cho cán bộ, công nhân viên làm kinh tế phụ gia đình vẫn phải nộp thuế nông nghiệp theo quy định chung.
  • Hộ nông dân cá thể: Ngoài mức thuế cơ bản, hộ cá thể phải nộp thêm một khoản phụ thu tính trên tổng số thuế của hộ (không tính thuế đối với đất hạng 7, đất vườn và đất trồng cây lâu năm). Tỷ lệ phụ thu lũy tiến theo diện tích đất sử dụng: từ trên 0,5 ha đến 1 ha phụ thu 10%; từ trên 1 ha đến 2 ha phụ thu 20%; từ trên 2 ha đến 3 ha phụ thu 40%; trên 3 ha phụ thu 60%. Diện tích từ 0,5 ha trở xuống không phải nộp phụ thu.

Chế độ miễn, giảm thuế nông nghiệp

  • Các trường hợp được xét miễn hoặc giảm thuế bao gồm: Thiên tai, địch họa gây thiệt hại nặng nề cho mùa màng; hoặc do thay đổi quy hoạch, tổ chức lại sản xuất theo phương án của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn đến thu nhập bị giảm sút nghiêm trọng.
  • Hộ gia đình thương binh, liệt sĩ và các hộ gặp khó khăn đặc biệt khi chuyển sang diện nộp thuế mới được xem xét miễn khoản phụ thu và có thể được giảm thuế nếu đời sống vẫn còn khó khăn.
  • Thẩm quyền quyết định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyền quyết định miễn, giảm thuế trong phạm vi không quá 5% tổng số thuế ghi thu cả năm của địa phương. Vượt quá tỷ lệ này phải trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định.

Tổ chức quản lý, thu nộp và giải quyết khiếu nại

  • Thời hạn thu thuế: Thu mỗi năm một hoặc hai lần theo thời vụ thu hoạch của các cây trồng chính.
  • Trách nhiệm của các cơ quan: Hội đồng Bộ trưởng thống nhất lãnh đạo; Bộ Tài chính chỉ đạo, kiểm tra thực hiện; Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) trực tiếp tổ chức kê khai, phân hạng đất, lập sổ thuế, thu thuế và quản lý việc miễn giảm tại địa phương.
  • Nghĩa vụ của người nộp thuế: Kê khai trung thực diện tích, hạng đất, sản lượng và nộp thuế đúng hạn.
  • Quyền khiếu nại: Người nộp thuế có quyền khiếu nại về việc tính thuế không đúng pháp luật lên Ủy ban nhân dân nơi lập sổ thuế và cấp trên trực tiếp. Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, người nộp vẫn phải thực hiện nộp đủ số thuế đã ấn định.

Khen thưởng và xử lý vi phạm

  • Khen thưởng: Các địa phương, tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc được khen thưởng từ Quỹ khen thưởng công tác thuế nông nghiệp (được trích lập theo tỷ lệ nhất định trên tổng số thuế thu được hàng năm).
  • Xử lý vi phạm đối với người nộp thuế: Hành vi gian lận, chậm nộp hoặc trốn thuế sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tiền, phạt hiện vật lên đến hai lần số thuế thiếu. Hành vi cản trở thi hành pháp luật sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Xử lý vi phạm đối với cán bộ: Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che, làm trái quy định hoặc thiếu trách nhiệm trong quản lý thuế sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc truy tố trước pháp luật nếu gây hậu quả nghiêm trọng.

Hiệu lực thi hành

Pháp lệnh này bãi bỏ toàn bộ các quy định về thuế nông nghiệp trước đây trái với các điều khoản tại văn bản này. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm ban hành các quy định chi tiết để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh trên thực tế.

HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 9-LCT/HĐNN7

Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 1983

 

PHÁP LỆNH

VỀ THUẾ NÔNG NGHIỆP

Để chính sách thuế nông nghiệp được công bằng, hợp lý và thống nhất trong cả nước, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn, khuyến khích thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích trồng trọt ;
Căn cứ vào Điều 83 và Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá VII, kỳ họp thứ 4, ngày 28 tháng 12 năm 1982 ;
Pháp lệnh này quy định về thuế nông nghiệp.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Mọi tổ chức và cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, hoặc các loại đất khác vào sản xuất nông nghiệp, đều có nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp.

Điều 2

Căn cứ để tính thuế nông nghiệp là :

a) Diện tích và hạng đất, đối với đất trồng cây hàng năm.

b) Diện tích và sản lượng hàng năm, hoặc giá trị sản lượng hàng năm, đối với đất vườn và đất trồng cây lâu năm.

Thuế nông nghiệp chủ yếu thu bằng thóc. Việc thu bằng nông sản khác hoặc bằng tiền thay cho hiện vật, do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 3

Đất khai hoang, đất phục hoá chưa phải chịu thuế nông nghiệp, kể từ vụ thu hoạch đầu tiên, trong thời hạn như sau :

a) Đối với đất khai hoang : từ 3 đến 5 năm.

b) Đối với đất phục hoá : từ 1 đến 3 năm.

Thời hạn chưa phải chịu thuế nông nghiệp đối với từng trường hợp do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc đơn vị hành chính tương đương quyết định, xét theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Điều 4

Đối với đất khai hoang, phục hoá thuộc các vùng kinh tế mới đã đến hạn phải chịu thuế, nhưng sản xuất và đời sống của người khai hoang, phục hoá còn nhiều khó khăn thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc đơn vị hành chính tương đương xét, quyết định kéo dài thêm thời hạn chưa phải chịu thuế nông nghiệp. Thời gian kéo dài thêm không quá 5 năm, đối với đất hoang ; không quá 3 năm, đối với đất phục hoá.

Điều 5

Đối với đất ở miền núi, nơi nhân dân mới chuyển sang định canh, định cư, đời sống chưa ổn định, hoặc đối với đất ở vùng rẻo cao, nếu sản xuất còn nhiều khó khăn, thì Uỷ ban nhân dân tỉnh xét, quyết định thời hạn chưa phải chịu thuế nông nghiệp.

Điều 6

Đất ở không phải chịu thuế nông nghiệp.

Chương 2:

CÁCH TÍNH THUẾ VÀ BIỂU THUẾ

Điều 7

Căn cứ vào độ phì (nông hoá, thổ nhưỡng) và điều kiện tưới, tiêu, thể hiện ở năng xuất trung bình hàng năm trong điều kiện canh tác bình thường, đất trồng cây hạng năm được phân là 7 hạng như sau :

Hạng đất Năng suất trung bình hàng năm tính bằng

Ki - lô - gam thóc trên 100 mét vuông

1 Từ 50 kg trở lên

2 Từ 40 kg đến dưới 50 kg

3 Từ 30 kg ;; 40 kg

4 Từ 25 kg ;; 30 kg

5 Từ 20 kg ;; 25 kg

6 Từ 15 kg ;; 20 kg

7 Dưới 15 kg

Việc phân hạng đất do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn làm, dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Bảng phân hạng đất, sau khi được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc đơn vị hành chính tương đương duyệt và Hội đồng bộ trưởng phê chuẩn, được dùng làm căn cứ tính thuế trong thời hạn 5 năm.

Điều 8

Đất trồng cây hàng năm chịu thuế theo định xuất như sau :

Hạng đất Định suất tính bằng ki-lô-gam thóc trên 100 mét vuông

 

Xã đồng bằng Xã trung du Xã miền núi

1 7,0 6,5 5,8

2 5,6 5,2 4,6

3 4,2 3,9 3,5

4 3,5 3,2 2,9

5 2,8 2,6 2,3

6 2,1 1,9 1,7

7 1,0 0,8 0,6

Đất trồng cây dược liệu đặc biệt, chịu thuế theo quy định riêng.

Điều 9

Đối với đất vườn, đất trồng cây lâu năm, thuế tính theo tỷ lệ trên sản lượng hàng năm hoặc giá trị sản lượng hàng năm, tuỳ theo loại cây trồng :

1- Cây lấy gỗ, cây lấy lá 8%

2- Cây ăn quả 10% đến 30%

3- Cây công nghiệp lâu năm và cây khác 12%

Thuế suất áp dụng cho từng loại cây ăn quả, có tính đến quy mô vườn cây ăn quả của mỗi hộ, do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Sản lượng hàng năm hoặc giá trị sản lượng hàng năm của từng loại cây do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác định, dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ; sau khi được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc đơn vị hành chính tương đương duyệt, thì được dùng làm căn cứ tính thuế.

Điều 10

Đối với đất do hợp tác xã nông nghiệp, tập đoàn sản xuất nông nghiệp sử dụng, tính thuế theo quy định ở Điều 7, Điều 8, Điều 9 của Pháp lệnh này.

Đối với phần đất, kể cả đất vườn, đất trồng cây lâu năm giao lại cho xã viên, tập đoàn viên để làm kinh tế phụ gia đình, thuế tính như đối với đất do hợp tác xã, tập đoàn sản xuất sử dụng.

Điều 11

Đối với đất do nông trường quốc doanh và các trạm, trại quốc doanh sử dụng, thì không áp dụng chế độ thuế nông nghiệp, mà áp dụng chế độ giao nộp sản phẩm và các chế độ thu của Nhà nước đối với xí nghiệp quốc doanh.

Đối với phần đất giao lại cho cán bộ, công nhân, viên chức nông trường, trạm trại để làm kinh tế phụ gia đình, thì thuế tính theo quy định ở Điều 7, Điều 8, Điều 9 của Pháp lệnh này.

Điều 12

Đối với đất do các hộ nông dân cá thể sử dụng, thuế tính theo quy định ở Điều 7, Điều 8, Điều 9 của Pháp lệnh này, cộng thêm một khoản phụ thu tính trên tổng số thuế của hộ, không kể số thuế đối với đất hạng 7, đối với đất vườn và đất trồng cây lâu năm.

Tỷ lệ phụ thu được xác định căn cứ vào diện tích đất sử dụng của mỗi hộ, không tính đất hạng 7, đất vườn và đất trồng cây lâu năm.

Mức diện tích để tính phụ thu Tỷ lệ phụ thu

Từ 0,5 ha trở xuống Không tính phụ thu

Trên 0,5 đến 1 ha 10%

Trên 1 ha đến 2 ha 20%

Trên 2 ha đến 3 ha 40%

Trên 3 ha 60%

Điều 13

Đối với đất do các tổ chức và cá nhân khác sử dụng để sản xuất nông nghiệp, thuế tính theo quy định ở Điều 7, Điều 8, Điều 9 của Pháp lệnh này.

Điều 14

Thuế nông nghiệp thu mỗi năm một hoặc hai lần theo thời vụ của các cây trồng chính trong năm. Mức thuế phải nộp từng vụ và thời hạn nộp thuế do Hội đồng bộ trưởng quy định cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, và đơn vị hành chính tương đương.

Chương 3:

GIẢM THUẾ, MIỄN THUẾ

Điều 15

Thuế nông nghiệp có thể được giảm hoặc miễn trong các trường hợp sau đây :

a) Do thiên tai, địch hoạ mà mùa màng bị thiệt hại nặng.

b) Do tổ chức lại sản xuất hoặc thay đổi quy hoạch và phương án kinh tế - kỹ thuật được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt mà thu nhập của tổ chức, cá nhân chịu thuế bị giảm sút nhiều so với trước.

Điều 16

Những hộ trước đây được miễn thuế, nay phải nộp thuế theo Pháp lệnh này, nếu đời sống có nhiều khó khăn, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận và Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt, thì được miễn phụ thu quy định ở Điều 12 của Pháp lệnh này.

Điều 17

Những hộ là gia đình thương binh, liệt sĩ, nếu đời sống có nhiều khó khăn, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận và được Uỷ ban nhân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt, thì được miễn phụ thu. Sau khi miễn phụ thu mà đời sống vẫn còn khó khăn thì được xét giảm thuế.

Điều 18

Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể việc giảm thuế, miễn thuế trong các trường hợp nói ở Điều 15, Điều 16, Điều 17 của Pháp lệnh này.

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương , hoặc đơn vị hành chính tương đương được quyền quyết định giảm thuế, miễn thuế trong các trường hợp nói ở Điều 15, Điều 16, Điều 17 của Pháp lệnh này, trong phạm vi không quá 5% tổng số thuế ghi thu cả năm của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc đơn vị hành chính tương đương. Trong trường hợp cần miễn, giảm quá mức quy định trên đây thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc đơn vị hành chính tương đương đề nghị Hội đồng bộ trưởng quyết định.

Chương 4:

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 19

Hội đồng bộ trưởng lãnh đạo việc tổ chức thực hiện toàn bộ công tác thuế nông nghiệp.

Bộ Tài chính tổ chức thực hiện công tác thuế nông nghiệp và chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân dân các cấp trong công tác này.

Các ngành hữu quan từ trung ương đến địa phương, phải làm tròn trách nhiệm đối với công tác thuế nông nghiệp trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình.

Điều 20

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các cấp và các ngành trong địa phương tổ chức thực hiện công tác thuế nông nghiệp trong địa phương mình ; bảo đảm thu thuế đúng chính sách, đạt chỉ tiêu, đúng thời hạn ; kiện toàn bộ máy thu thuế ; kịp thời động viên, khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng các tổ chức và cá nhân có nhiều thành tích trong công tác thuế nông nghiệp.

Điều 21

Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiệm vụ chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp dưới thực hiện công tác thuế nông nghiệp ; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc xác định diện tích chịu thuế, phân hạng đất, xác định sản lượng đất vườn và đất trồng cây lâu năm, tính thuế, lập sổ thuế và thu thuế ; duyệt sổ thuế đúng thời hạn ; chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc giảm thuế, miễn thuế theo quy định của pháp luật.

Điều 22

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác thuế nông nghiệp ở địa phương mình : tuyên truyền, giải thích chính sách thuế nông nghiệp ; kiểm kê diện tích chịu thuế, phân hạng đất, xác định sản lượng đất vườn và đất trồng cây lâu năm, tính thuế, lập sổ thuế ; tổ chức thu thuế và nhập kho thóc thuế ; kiện toàn tổ chức giúp việc là Ban thuế nông nghiệp xã, phường, thị trấn.

Điều 23

Mọi tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp phải kê khai đúng diện tích, hạng đất cây hàng năm, sản lượng đất vườn và đất trồng cây lâu năm, nộp đủ và đúng hạn số thuế phải nộp.

Tổ chức và cá nhân nào thấy việc thi hành chính sách thuế nông nghiệp đối với đơn vị hoặc bản thân mình không đúng pháp luật thì có quyền khiếu nại với Uỷ ban nhân dân nơi lập sổ thuế. Trong trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định của Uỷ ban nhân dân nơi mình khiếu nại thì có quyền khiếu nại lên Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp. Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp có hiệu lực thi hành.

Trong khi chờ giải quyết, người khiếu nại vẫn phải nộp đủ và đúng hạn số thuế ấn định.

Chương 5:

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ PHẠT

Điều 24

Địa phương, tổ chức hoặc cá nhân nào có nhiều thành tích trong công tác thuế nông nghiệp thì được khen thưởng.

Bộ Tài chính được trích bằng tiền một tỷ lệ nhất định trên số thuế thu được hàng năm để thành lập quỹ khen thưởng về công tác thuế nông nghiệp.

Mức trích, thể thức lập và sử dụng quỹ khen thưởng do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 25

1- Tổ chức hoặc cá nhân nào có hành vi gian lận trong việc tính thuế, nộp thuế, hoặc dây dưa trong việc nộp thuế thì bị xử phạt theo một hoặc nhiều hình thức dưới đây :

a) Cảnh cáo.

b) Phạt tiền hoặc hiện vật đến hai lần số thuế thiếu.

2- Người nào cản trở hoặc xúi giục người khác cản trở việc thi Hành Pháp lệnh này, hoặc cản trở việc điều tra và xử lý các vụ vi phạm Pháp lệnh thì tuỳ theo mức độ nhẹ, nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy tố trước pháp luật.

Điều 26

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn bao che cho người vi phạm Pháp lệnh về thuế nông nghiệp, làm trái các quy định về thuế nông nghiệp, hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc thi hành Pháp lệnh về thuế nông nghiệp, thì bị xử lý theo kỷ luật hành chính. Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy tố trước pháp luật.

Chương 6:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 27

Những quy định trước đây về thuế nông nghiệp trái với Pháp lệnh này, đều bãi bỏ.

Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.

 

 

Trường Chinh

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1983 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 9-LCT/HĐNN7
Loại văn bản: Pháp lệnh
Ngày ban hành: 25/02/1983
Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
Người ký: Trường Chinh
Ngày công báo: 15/04/1983
Số công báo: Số 6
Ngày hiệu lực: 03/03/1983
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1983 do Hội đồ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký