Nghị định 270-HĐBT được ban hành ngày 15 tháng 7 năm 1991 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất. Văn bản quy định rõ ràng về đối tượng chịu thuế, các trường hợp miễn trừ, căn cứ tính thuế, thuế suất, các chính sách miễn giảm và công tác tổ chức thu thuế trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng thuế nhà đất
Nghị định quy định mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan, xí nghiệp, lực lượng vũ trang có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng nhà, đất ở, đất xây dựng công trình (gọi chung là chủ nhà đất) đều thuộc đối tượng phải nộp thuế nhà đất. Trong trường hợp đang có tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc chưa xác định được chủ nhà đất cụ thể, tổ chức hoặc cá nhân đang trực tiếp sử dụng nhà đất đó có nghĩa vụ nộp thuế.
Đối tượng chịu thuế bao gồm hai nhóm chính:
- Nhà: Bao gồm nhà ở, nhà làm việc, nhà dùng vào mục đích sản xuất và kinh doanh.
- Đất: Bao gồm đất ở và đất xây dựng công trình.
Các trường hợp không thuộc đối tượng thu thuế nhà đất
Nhà nước không thực hiện thu thuế nhà đất đối với các trường hợp sau:
- Nhà ở thuộc vùng nông thôn. Tuy nhiên, quy định này loại trừ nhà ở ven đường quốc lộ, tỉnh lộ thuộc vùng đồng bằng, trung du nơi có hoạt động kinh doanh, dịch vụ (áp dụng cho cả nhà ở có kết hợp kinh doanh và nhà ở thuần túy không kinh doanh).
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng như làm đường sá, cầu cống, công viên, sân vận động, đê điều, công trình thủy lợi, nghĩa trang.
- Nhà đất được dùng làm trụ sở làm việc của cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước, các tổ chức xã hội (Đảng, đoàn thể...) và các công trình văn hóa, doanh trại của lực lượng vũ trang không sử dụng vào hoạt động kinh doanh.
- Nhà đất chuyên dùng vào việc thờ cúng của các tôn giáo bao gồm nhà thờ đạo Thiên Chúa, đình, chùa, miếu.
- Nhà đất được sử dụng vì lợi ích công cộng mà chủ nhà đất không thực hiện thu tiền thuê.
Căn cứ tính thuế và thuế suất thuế nhà đất
Căn cứ để tính thuế nhà đất được xác định dựa trên diện tích nhà, diện tích đất, giá tính thuế trên mỗi mét vuông (m2) đối với từng hạng nhà, hạng đất và mức thuế suất tương ứng.
- Thuế suất đối với nhà: Được quy định là 0,3% giá tính thuế/năm.
- Thuế suất đối với đất: Được quy định là 0,5% giá tính thuế/năm.
Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Tổng cục Quản lý ruộng đất và Ủy ban Vật giá Nhà nước có trách nhiệm ban hành khung giá tiêu chuẩn và hướng dẫn phân loại hạng nhà, hạng đất. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập Ban định giá tính thuế nhà đất (do Phó Chủ tịch UBND làm Trưởng ban) để quy định giá tính thuế cụ thể phù hợp với địa phương. Giá tính thuế nhà đất được xem xét điều chỉnh định kỳ hai năm một lần và công bố công khai vào đầu năm.
Quy định mức thuế đất ở thuộc vùng nông thôn
Đối với đất ở thuộc vùng nông thôn, mức thuế đất được tính toán quy đổi theo mức thuế nông nghiệp của cùng hạng đất trong vùng như sau:
- Tại vùng đồi trọc, đá sỏi: Mức thuế đất bằng 1 lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng.
- Tại vùng trung du, đồi núi: Mức thuế đất bằng 1,5 lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng.
- Tại vùng đồng bằng: Mức thuế đất bằng 2 lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng.
- Riêng tại vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và khu vực ven các đường quốc lộ, tỉnh lộ: Mức thuế đất bằng 3 lần mức thuế nông nghiệp trong vùng.
- Trường hợp đất ở nhưng thực tế sử dụng vào sản xuất nông nghiệp: Áp dụng mức thuế đất bằng đúng mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất.
Các trường hợp được xét miễn, giảm thuế nhà đất
Nghị định quy định cụ thể các trường hợp được xem xét miễn hoặc giảm thuế bao gồm:
- Nhà được xây dựng bằng các vật liệu dễ hư hỏng hoặc nhà bị hư hỏng nặng đang trong quá trình sửa chữa. Thời gian được xét miễn, giảm thuế tối đa không quá hai năm.
- Nhà mới xây dựng tại các đô thị mới hình thành; nhà xưởng của các cơ sở sản xuất mới đi vào hoạt động được miễn thuế trong 3 năm đầu tiên kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng.
- Nhà, xưởng của các xí nghiệp quốc doanh thuộc diện phải nộp tiền thu trên vốn, hoặc sử dụng nguồn vốn vay chưa trả hết nợ mà nguồn lợi nhuận thu được không đủ để nộp thuế.
- Nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước hoặc của các tổ chức xã hội cho công nhân, viên chức Nhà nước thuê với mức giá thấp.
- Các đối tượng nộp thuế gặp khó khăn đặc biệt do thiên tai, địch họa hoặc tai nạn bất ngờ.
Tổ chức thu thuế và quản lý hành chính
Thuế nhà đất do hệ thống thuế Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính tổ chức thu nhận. Trong trường hợp cần thiết để thuận tiện cho công tác quản lý, cơ quan thuế được phép ủy nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp phường, xã thực hiện thu thuế nhà đất. Cơ quan nhận ủy nhiệm thu sẽ được hưởng khoản thủ tục phí theo quy định của Bộ Tài chính.
Người nộp thuế có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ và đúng hạn. Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định riêng về chế độ khen thưởng đối với cơ quan thuế, cán bộ thuế hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và những cá nhân có công phát hiện các hành vi vi phạm Pháp lệnh thuế nhà đất.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 270-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 7 năm 1991. Tất cả các quy định trước đây trái với Pháp lệnh thuế nhà đất và Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 270-HĐBT | Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1991 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 270-HĐBT NGÀY 14-9-1991 QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH PHÁP LỆNH THUẾ NHÀ, ĐẤT
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Để thi hành Pháp lệnh thuế nhà đất do Hội đồng Nhà nước công bố theo lệnh số 54-LCT/HĐNN8 ngày 1 tháng 7 năm 1991,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Đối tượng thu thuế nhà đất gồm:
1. Nhà: nhà ở, nhà làm việc, nhà dùng vào sản xuất, kinh doanh.
2. Đất: đất ở, đất xây dựng công trình.
Trong trường hợp có sự tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng nhà đất hoặc chưa xác định được chủ nhà đất thì tổ chức cá nhân đang sử dụng đất phải nộp thuế nhà đất.
Điều 3. Không thu thuế nhà đất đối với:
1. Nhà ở thuộc vùng nông thôn, trừ nhà ở ven đường quốc lộ, tỉnh lộ thuộc vùng đồng bằng, trung du nơi có hoạt động kinh doanh, dịch vụ (bao gồm cả nhà ở có kinh doanh, dịch vụ và nhà ở không có kinh doanh, dịch vụ).
2. Đất làm đường sá, cầu cống, công viên, sân vận động, đê điều, công trình thuỷ lợi, nghĩa trang.
3. Nhà đất dùng làm trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước, tổ chức xã hội (Đảng, đoàn thể...), công trình văn hoá, doanh trại lực lượng vũ trang, không sử dụng vào hoạt động kinh doanh.
4. Nhà đất chuyên dùng vào việc thờ cúng của tôn giáo bao gồm các nhà thờ đạo thiên chúa, các đình, chùa, miếu.
5. Nhà đất sử dụng vì lợi ích công cộng mà chủ nhà đất không thu tiền thuế.
Căn cứ quy định và hướng dẫn của Liên Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định việc phân loại hạng nhà, hạng đất, giá tính thuế nhà, đất phù hợp với đặc điểm tình hình xây dựng nhà, với từng loại đường phố, tại địa phương.
Riêng đối với đất ở thuộc vùng nông thôn căn cứ tính thuế được quy định theo Điều 11 Pháp lệnh thuế nhà đất và
Giá tính thuế nhà đất được xem xét điều chỉnh hai năm một lần, và phải được Uỷ ban nhân dân công bố để thực hiện vào đầu năm.
Điều 7. Thuế suất thuế nhà đất được quy định:
- Đối với nhà: 0,3% giá tính thuế/năm.
- Đối với đất: 0,5% giá tính thuế/năm.
1. Ở vùng đồi trọc, đá sỏi, mức thuế đất bằng một lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng.
2. Ở vùng trung du, đồi núi, mức thuế đất bằng 1,5 lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng.
3. Ở vùng đồng bằng, mức thuế đất bằng hai lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng.
Riêng ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và ven các đường quốc lộ, tỉnh lộ, mức thuế đất bằng 3 lần mức thuế nông nghiệp trong vùng.
Đất ở mà sử dụng vào sản xuất nông nghiệp được tính thuế đất bằng mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất.
Điều 10. Cơ quan thuế có nhiệm vụ, quyền hạn như quy định tại điều 15 Pháp lệnh thuế nhà đất.
Điều 11. Được xét giảm, miễn thuế nhà đất trong những trường hợp sau:
1. Nhà xây dựng bằng vật liệu dễ hư hỏng hoặc nhà hư hỏng nặng phải sửa chữa. Thời gian giảm, miễn thuế tối đa là hai năm.
2. Nhà mới xây dựng ở những đô thị mới hình thành, nhà xưởng của những cơ sở sản xuất mới hoạt động trong 3 năm đầu kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng.
3. Nhà, xưởng của các xí nghiệp quốc doanh thuộc diện phải nộp tiền thu trên vốn, hoặc do nguồn vốn đi vay chưa trả hết nợ, mà nguồn lãi không còn đủ để nộp thuế.
4. Nhà, đất thuộc quyền sở hữu Nhà nước, của các tổ chức xã hội, cho công nhân viên chức Nhà nước thuê với giá thấp.
5. Các đối tượng nộp thuế nhà đất có khó nhăn do thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ.
Bộ Tài chính hướng dẫn nguyên tắc, thủ tục và mức độ xét giảm, miễn thuế nhà đất cho từng loại đối tượng nói trên.
Điều 16. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Thông tư 53-TC/TCT năm 1991 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước và Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về Thuế Nhà, Đất do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư liên tịch 7-LB/TT năm 1991 hướng dẫn phân loại các hạng nhà, hạng đất và định giá Thuế Nhà, Đất do Bộ Tài chính - Bộ Xây dựng - Tổng cục Quản lý ruộng đất - Uỷ ban Vật giá Nhà nước ban hành
- 3 Thông tư 58-TC/TCT năm 1991 bổ sung một số vấn đề về Thuế Nhà, Đất do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2 Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất năm 1991 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 3 Thông tư 53-TC/TCT năm 1991 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước và Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về Thuế Nhà, Đất do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Thông tư liên tịch 7-LB/TT năm 1991 hướng dẫn phân loại các hạng nhà, hạng đất và định giá Thuế Nhà, Đất do Bộ Tài chính - Bộ Xây dựng - Tổng cục Quản lý ruộng đất - Uỷ ban Vật giá Nhà nước ban hành
- 5 Thông tư 58-TC/TCT năm 1991 bổ sung một số vấn đề về Thuế Nhà, Đất do Bộ Tài chính ban hành