Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 46/2006/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về trình tự, thủ tục xử lý đối với hàng hóa do người vận chuyển lưu giữ tại cảng biển Việt Nam. Quy định này nhằm bảo đảm việc thanh toán tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tàu và các khoản chi phí hợp lý khác phát sinh từ hoạt động vận tải biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Nghị định này điều chỉnh các hoạt động liên quan đến việc xử lý hàng hóa bị lưu giữ tại cảng biển Việt Nam để giải quyết các khoản nợ về cước phí và chi phí vận tải. Đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình vận chuyển và xử lý hàng hóa bị lưu giữ bằng đường biển tại Việt Nam.

Các trường hợp hàng hóa bị lưu giữ tại cảng biển

Hàng hóa vận chuyển bằng đường biển sẽ bị người vận chuyển lưu giữ trong các trường hợp cụ thể sau:

  • Người nhận hàng không đến nhận hàng theo thỏa thuận hoặc thông báo.
  • Người nhận hàng từ chối nhận hàng hóa được vận chuyển.
  • Người nhận hàng có hành vi trì hoãn việc nhận hàng.
  • Có sự tranh chấp khi nhiều người cùng xuất trình vận đơn gốc, giấy gửi hàng hoặc các chứng từ vận chuyển tương đương để đòi nhận hàng.
  • Người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng chưa thanh toán đầy đủ hoặc không đưa ra biện pháp bảo đảm cần thiết cho việc thanh toán các khoản nợ (bao gồm tiền cước, tiền bồi thường lưu tàu và chi phí khác). Người vận chuyển chỉ được phép lưu giữ lượng hàng hóa có giá trị tương đương với tổng các khoản nợ và chi phí phát sinh, tính theo giá thị trường tại thời điểm và nơi lưu giữ.

Quy trình và thời hạn thông báo lưu giữ hàng hóa

Để bảo đảm tính pháp lý, người lưu giữ phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình thông báo theo các bước sau:

  • Thông báo lần đầu: Ngay khi tiến hành lưu giữ, người lưu giữ phải gửi văn bản thông báo cho người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng về việc lưu giữ và dự kiến bán đấu giá hàng hóa để thu hồi nợ.
  • Thông báo đại chúng: Sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo đầu tiên, nếu không nhận được phản hồi hoặc không được thanh toán nợ, người lưu giữ phải thông báo 3 lần liên tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc của địa phương cấp tỉnh nơi thực hiện việc lưu giữ hàng hóa, đồng thời gửi thông báo trực tiếp cho người thuê vận chuyển hoặc người vận chuyển.
  • Ủy quyền bán đấu giá: Sau 60 ngày kể từ ngày tàu đến cảng trả hàng, nếu các khoản nợ vẫn không được thanh toán và không có bảo đảm, người lưu giữ có quyền ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá hàng hóa và thông báo cho người thuê hoặc người nhận hàng biết.
  • Trường hợp đặc biệt: Đối với hàng hóa mau hỏng, dễ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng quốc phòng an ninh hoặc chi phí lưu kho quá lớn so với giá trị thực tế, người vận chuyển có quyền xử lý sớm hơn thời hạn 60 ngày nhưng vẫn phải tuân thủ trình tự thông báo quy định.

Giám định và thủ tục bán đấu giá hàng hóa

  • Yêu cầu giám định: Trước khi ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá, người lưu giữ bắt buộc phải thuê tổ chức giám định để xác định số lượng, chất lượng và tình trạng tổn thất (nếu có) của hàng hóa. Chi phí giám định này sẽ được tính gộp vào chi phí liên quan đến việc bán đấu giá.
  • Thủ tục đấu giá: Việc bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ được thực hiện theo đúng các quy định hiện hành của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
  • Hàng hóa cấm lưu thông: Trường hợp hàng hóa bị lưu giữ thuộc danh mục cấm nhập khẩu hoặc cấm lưu thông tại Việt Nam sẽ được xử lý riêng theo các quy định pháp luật chuyên ngành liên quan.

Nguyên tắc phân bổ tiền thu được từ bán đấu giá

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán đấu giá hàng hóa phải được gửi vào "Tài khoản tiền quản lý, giữ hộ" của người lưu giữ tại một ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam. Việc chi trả số tiền này phải có chứng từ hợp lệ và thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau:

  1. Các khoản thuế, lệ phí và chi phí phát sinh liên quan đến việc ký gửi, bảo quản và tổ chức bán đấu giá hàng hóa.
  2. Các khoản nợ hợp pháp đối với người lưu giữ (tiền cước, tiền lưu tàu và các chi phí liên quan).
  3. Các chi phí hợp lý khác phát sinh trực tiếp từ việc lưu giữ hàng hóa.

Nếu số tiền bán đấu giá không đủ chi trả, người lưu giữ có quyền tiếp tục yêu cầu các bên liên quan thanh toán phần còn thiếu. Nếu còn thừa, số tiền thừa sẽ được giữ lại tại tài khoản để hoàn trả cho người có quyền nhận hợp pháp.

Thông báo kết quả chi trả và xử lý số tiền còn thừa

  • Thông báo chi trả: Trong vòng 3 ngày kể từ ngày hoàn thành việc chi trả, người lưu giữ phải thông báo cho người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng, đồng thời đăng tin 3 lần liên tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nếu có tiền thừa, phải nêu rõ số tiền và số tài khoản tạm giữ tại ngân hàng.
  • Hoàn trả tiền thừa: Người lưu giữ có trách nhiệm hoàn trả tiền thừa cho người có quyền nhận hợp pháp khi có yêu cầu. Nếu có nhiều người cùng có quyền nhận, số tiền sẽ được phân chia theo tỷ lệ quyền lợi tương ứng.
  • Nộp ngân sách nhà nước: Sau 180 ngày kể từ ngày bán đấu giá, nếu không có ai nhận hoặc người yêu cầu không chứng minh được quyền nhận hợp pháp, người lưu giữ phải nộp toàn bộ số tiền thừa vào ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh nơi lưu giữ hàng hóa.
  • Giải quyết tranh chấp: Trường hợp có tranh chấp về quyền nhận tiền thừa, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền. Khi có quyết định của Tòa án, người lưu giữ sẽ làm thủ tục đề nghị cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thoái thu để trả lại cho người nhận hợp pháp.

Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện

Nghị định 46/2006/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Nghị định này thay thế và hủy bỏ hoàn toàn Nghị định số 55/1998/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về xử lý hàng hóa do người vận chuyển đường biển lưu giữ tại Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc Nghị định này.

CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
------------------

Số: 46/2006/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2006

NGHỊ ĐỊNH

VỀ XỬ LÝ HÀNG HÓA DO NGƯỜI VẬN CHUYỂN LƯU GIỮ TẠI CẢNG BIỂN VIỆT NAM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH :

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định trình tự, thủ tục xử lý đối với hàng hóa do người vận chuyển lưu giữ tại cảng biển Việt Nam theo quy định tại Điều 94 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam (sau đây gọi chung là Bộ luật) để bảo đảm việc thanh toán tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tàu và các khoản chi phí khác liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến việc xử lý hàng hóa vận chuyển bằng đường biển bị lưu giữ tại cảng biển Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. "Người lưu giữ" là người vận chuyển có quyền lưu giữ hàng hoá khi có căn cứ làm phát sinh quyền lưu giữ hàng hoá.

2. "Hàng hóa bị lưu giữ" là hàng hóa do người vận chuyển bằng đường biển lưu giữ tại cảng biển Việt Nam để bảo đảm việc thanh toán tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tàu và các khoản chi phí khác liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.

3. "Các khoản nợ" là tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tàu và các chi phí hợp lý khác liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa đó mà người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng chưa thanh toán hết hoặc không đưa ra bảo đảm cần thiết để thanh toán.

4. "Người bán đấu giá" là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản, trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc hội đồng bán đấu giá tài sản theo quy định tại cỏc Điều 34, 35, 36 và 37 của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.

5. Các khái niệm "người vận chuyển", "người thuê vận chuyển", "người nhận hàng" được vận dụng theo các quy định tại cỏc khoản 1, 2 và 5 Điều 72 của Bộ luật.

Điều 4. Hàng hóa bị lưu giữ

1. Hàng hóa bị lưu giữ trong các trường hợp sau đây:

a) Người nhận hàng không đến nhận;

b) Người nhận hàng từ chối nhận hàng;

c) Người nhận hàng trì hoãn việc nhận hàng;

d) Có nhiều người cùng xuất trình vận đơn gốc, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương có giá trị để nhận hàng;

đ) Người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng chưa thanh toán hết hoặc không đưa ra một bảo đảm cần thiết về thanh toán hết các khoản nợ. Người vận chuyển chỉ được lưu giữ số lượng hàng hóa có giá trị bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các chi phí quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này. Giá trị hàng hoá để tính số lượng hàng mà người vận chuyển lưu giữ được tính trên cơ sở giá của hàng hoá đó tại thị trường nơi người vận chuyển lưu giữ hàng hoá và tại thời điểm hàng hoá bị lưu giữ.

2. Người lưu giữ có quyền bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ sau sáu mươi ngày, kể từ ngày tàu biển đến cảng trả hàng nếu những người có lợi ích liên quan quy định tại khoản 1 Điều này không thanh toán đủ các khoản nợ hoặc không có bảo đảm cần thiết khác và người lưu giữ phải thực hiện các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 5 của Nghị định này. Trong trường hợp hàng hóa bị lưu giữ thuộc loại mau hỏng, có khả năng gây ô nhiễm môi trường, có ảnh hưởng tới quốc phòng, an ninh hoặc việc ký gửi hàng hóa bị lưu giữ quá tốn kém so với giá trị thực tế của hàng hóa thì người vận chuyển có quyền căn cứ theo tính chất, đặc điểm tự nhiên của hàng hoá và khả năng tài chính của mình để xử lý hàng hóa bị lưu giữ sớm hơn thời hạn quy định nhưng vẫn phải thực hiện các công việc theo trình tự quy định tại Điều 5 của Nghị định này.

3. Người lưu giữ thực hiện việc lưu giữ hàng hóa và xử lý hàng hóa bị lưu giữ quy định tại Nghị định này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc lưu giữ và việc xử lý hàng hóa bị lưu giữ đó.

Điều 5. Thông báo lưu giữ hàng hóa

1. Ngay khi thực hiện việc lưu giữ hàng hóa, người lưu giữ phải thông báo bằng văn bản cho người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng về việc lưu giữ hàng hóa và dự định bán hàng hoá lưu giữ để trừ các khoản nợ.

2. Sau ba mươi ngày, kể từ ngày gửi thông báo đầu tiên, người lưu giữ không nhận được trả lời của người thuê vận chuyển hoặc của người nhận hàng hoặc không được thanh toán hết các khoản nợ thì người lưu giữ phải thông báo ba lần liên tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc của địa phương cấp tỉnh nơi thực hiện việc lưu giữ hàng hoá, đồng thời thông báo cho người thuê vận chuyển hoặc người vận chuyển biết.

3. Sau sáu mươi ngày, kể từ ngày tàu biển đến cảng trả hàng, nếu người lưu giữ sau khi đã thực hiện các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nhưng vẫn không được thanh toán hết các khoản nợ thì người lưu giữ có quyền ký hợp đồng ủy quyền việc bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ cho người bán đấu giá, đồng thời thông báo cho người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng biết.

Điều 6. Thủ tục bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ

Thủ tục bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản

Điều 7. Hàng hóa bị lưu giữ thuộc loại cấm nhập khẩu hoặc cấm lưu thông

Hàng hóa bị lưu giữ thuộc loại cấm nhập khẩu hoặc cấm lưu thông trên lãnh thổ Việt Nam được xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 8. Giám định hàng hóa bị lưu giữ

Trước khi ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ, người lưu giữ phải thuê giám định về số lượng, chất lượng và tổn thất (nếu có) của hàng hóa bị lưu giữ. Chi phí giám định hàng hóa bị lưu giữ được tính vào chi phí liên quan đến bán đấu giá hàng hóa.

Điều 9. Chi trả tiền thu được do bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ

1. Toàn bộ tiền thu được do bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ được gửi vào "Tài khoản tiền quản lý, giữ hộ" của người lưu giữ tại Ngân hàng được phép hoạt động ở Việt Nam. Việc chi trả số tiền này được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Thuế, lệ phí, các chi phí liên quan đến việc ký gửi và bán đấu giá hàng hoá;

b) Các khoản nợ đối với người lưu giữ;

c) Các khoản chi phí hợp lý phát sinh do việc lưu giữ hàng hóa.

2. Việc chi trả số tiền nói tại khoản 1 Điều này phải có đầy đủ chứng từ hợp lệ theo quy định của pháp luật.

3. Số tiền còn thừa sau khi chi trả các khoản tiền quy định tại khoản 1 Điều này được giữ lại tại "Tài khoản tiền quản lý, giữ hộ" để trả lại cho người có quyền nhận.

4. Trong trường hợp số tiền thu được do bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ không đủ để chi trả các khoản tiền quy định tại khoản 1 Điều này thì người lưu giữ có quyền tiếp tục yêu cầu những người liờn quan có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu.

Điều 10. Thông báo việc đã chi trả số tiền thu được do bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ

1. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày chi trả xong số tiền bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ theo quy định tại Điều 9 của Nghị định này, người lưu giữ phải thông báo cho người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng biết về việc chi trả số tiền thu được do bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ đó. Ngay sau ngày gửi thông báo này, người lưu giữ phải đưa tin ba lần liên tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc của địa phương cấp tỉnh nơi thực hiện việc lưu giữ hàng hoá.

2. Trong trường hợp còn thừa tiền thì người lưu giữ phải thông báo rõ số tiền còn thừa và số tài khoản tạm gửi tại Ngân hàng cho người thuê vận chuyển hoặc người nhận hàng biết.

Điều 11. Xử lý số tiền còn thừa sau khi đã chi trả

1. Trong trường hợp người có quyền nhận số tiền còn thừa yêu cầu nhận lại số tiền đó, người lưu giữ phải trả cho người yêu cầu số tiền thừa nêu tại khoản 2 Điều 10 của Nghị định này; trong trường hợp nhiều người có quyền nhận số tiền còn thừa này thì số tiền còn thừa được chia theo tỷ lệ tương ứng với quyền lợi của mỗi người.

2. Sau một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày bán đấu giá hàng hoá nếu người lưu giữ đã thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Nghị định này mà không có ai yêu cầu nhận lại số tiền còn thừa hoặc có người yêu cầu nhưng không phải là người có quyền nhận thì người lưu giữ có nghĩa vụ nộp số tiền đó vào ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện việc lưu giữ hàng hóa.

3. Trong trường hợp người yêu cầu nhận tiền còn thừa không được người lưu giữ chấp nhận thì người yêu cầu nhận tiền còn thừa có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Khi Tòa án có quyết định công nhận số tiền còn thừa là quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu nhận tiền thì người lưu giữ có văn bản đề nghị cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thoái thu số tiền đã nộp để trả lại cho người yêu cầu nhận tiền hợp pháp.

Điều 12. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và huỷ bỏ Nghị định số 55/1998/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về xử lý hàng hoá do người vận chuyển đường biển lưu giữ tại Việt Nam.

Điều 13. Tổ chức thực hiện

1. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị định này.

2. Cỏc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Toà án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Học viện Hành chính quốc gia;
- VPCP: BTCN, TBNC, các PCN, BNC,
Website ChÝnh phñ, Ban Điều hành 112,
Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, CN (8b). Hoà (320 bản).

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG




Phan Văn Khải

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 46/2006/NĐ-CP về xử lý hàng hóa do người vận chuyển lưu giữ tại cảng biển Việt Nam

Số hiệu: 46/2006/NĐ-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 16/05/2006
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 24/05/2006
Số công báo: Số 27
Ngày hiệu lực: 08/06/2006
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thương mại
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 46/2006/NĐ-CP về xử lý hàng hóa do...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký