Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Tóm tắt Thể lệ 5261-TL/VB năm 1958 về cấp giấy chứng nhận giữ vàng cho nhân dân

Thể lệ số 5261-TL/VB do Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ban hành năm 1958 quy định chi tiết về việc kê khai và cấp giấy chứng nhận cất giữ vàng đối với công dân Việt Nam và kiều dân nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Dưới đây là nội dung phân tích chi tiết các quy định cốt lõi của văn bản này:

- Đối tượng và hạn mức bắt buộc phải kê khai cất giữ vàng

  • Đối tượng áp dụng: Tất cả người Việt Nam và kiều dân cư trú trên đất nước Việt Nam sở hữu vàng từ hạn mức quy định đều thuộc diện phải đăng ký.
  • Hạn mức bắt buộc: Cá nhân sở hữu tổng số lượng vàng từ 5 đồng cân (tương đương 18,75 gam) trở lên bắt buộc phải xin giấy chứng nhận cất giữ.
  • Các loại vàng phải kê khai: Quy định áp dụng cho cả vàng ta và vàng tây, không phân biệt hình thức tồn tại như đồ trang sức, vàng lá, vàng thoi, vàng nén, vàng vụn, vàng cốm, hoặc các loại tiền vàng đúc từ các thời đại trước.

- Giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận cất giữ vàng

  • Phạm vi hiệu lực: Giấy chứng nhận do Ngân hàng Quốc gia hoặc cơ quan được ủy nhiệm cấp chỉ có giá trị xác nhận tính hợp pháp của việc cất giữ vàng tại chỗ.
  • Giới hạn vận chuyển: Giấy chứng nhận này không có giá trị thay thế cho giấy phép vận chuyển vàng. Tuy nhiên, đây là giấy tờ pháp lý bắt buộc phải có khi cá nhân muốn làm thủ tục xin cấp giấy phép vận chuyển vàng.
  • Chế tài xử lý vi phạm: Những trường hợp sở hữu từ 5 đồng cân vàng trở lên mà không có giấy chứng nhận sẽ bị coi là cất giữ vàng bất hợp pháp và bị xử lý nghiêm theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 355-TTg ngày 16-07-1958 của Thủ tướng Chính phủ.

- Quy trình, địa điểm và nguyên tắc kê khai

  • Thông tin kê khai: Người sở hữu vàng phải kê khai trung thực, chính xác số lượng, phân loại vàng hiện có, cùng với họ tên và địa chỉ cư trú cụ thể của mình.
  • Địa điểm kê khai thông thường: Người dân thực hiện kê khai tại Ủy ban Hành chính khu phố hoặc Ủy ban Hành chính xã nơi mình cư trú (đơn vị được Ngân hàng Quốc gia ủy nhiệm việc cấp giấy).
  • Địa điểm kê khai trực tiếp tại Ngân hàng: Áp dụng đối với các cá nhân sở hữu số lượng vàng lớn muốn làm việc trực tiếp tại trụ sở Ngân hàng Quốc gia nơi mình ở, cụ thể:
    • Tại Hà Nội: Sở hữu từ 5 lạng vàng trở lên.
    • Tại Hải Phòng và Nam Định: Sở hữu từ 2 lạng vàng trở lên.
    • Tại các tỉnh thành khác: Sở hữu từ 1 lạng vàng trở lên.
  • Nguyên tắc một lần, một nơi: Mỗi cá nhân chỉ được phép kê khai một lần tại một địa điểm duy nhất. Người đã kê khai tại Ủy ban Hành chính thì không được kê khai tại Ngân hàng Quốc gia và ngược lại. Một số vàng của một người chỉ được cấp một giấy chứng nhận duy nhất (trừ trường hợp biến động số lượng).

- Quy định kê khai đối với trẻ em và người vị thành niên

  • Trường hợp có cha mẹ: Đồ trang sức bằng vàng do trẻ em hoặc người vị thành niên đeo trên người được tính gộp vào tài sản của cha mẹ. Cha mẹ có trách nhiệm kê khai số vàng này vào phần khai của mình và chịu trách nhiệm pháp lý.
  • Trường hợp không có cha mẹ: Nếu cha mẹ đã mất hoặc vắng mặt lâu ngày không liên lạc được, trẻ em hoặc người vị thành niên sẽ tự đứng tên kê khai. Chính quyền địa phương sẽ xem xét, quyết định người đại diện hợp pháp đứng tên nhận giấy chứng nhận giữ vàng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

- Thủ tục khi có sự thay đổi về số lượng và hình thức vàng

  • Nghĩa vụ báo cáo biến động: Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận, nếu phát sinh bất kỳ thay đổi nào về số lượng hoặc hình thức của khối vàng (như tặng cho, chia gia tài, mua thêm, bán bớt, hoặc đem vàng nguyên liệu đi chế tác thành đồ trang sức...), chủ sở hữu phải đến Ngân hàng Quốc gia để làm thủ tục chứng nhận sự thay đổi.
  • Yêu cầu hồ sơ đối với từng trường hợp cụ thể:
    • Trường hợp tặng cho: Phải khai báo rõ ràng danh tính, địa chỉ của người nhận và lý do tặng cho.
    • Trường hợp chia gia tài: Phải xuất trình văn bản chia gia tài có xác nhận, chứng thực của chính quyền địa phương.
    • Trường hợp phát sinh mới: Người mới mua thêm, được tặng cho hoặc được chia gia tài mà tổng số vàng tích lũy đạt từ 5 đồng cân trở lên phải đến ngay Ngân hàng Quốc gia để xin cấp giấy chứng nhận cất giữ mới.

- Thời hạn thực hiện và chế tài xử lý vi phạm

  • Thời hạn kê khai đợt đầu: Việc kê khai cấp giấy chứng nhận đợt đầu tại mỗi tỉnh, thành phố sẽ diễn ra trong một thời hạn nhất định do Ủy ban Hành chính tỉnh hoặc thành phố đó quyết định và thông báo công khai trước cho nhân dân biết.
  • Hậu quả của việc chậm trễ hoặc từ chối kê khai: Trong đợt kê khai đầu tiên, nếu cá nhân không thực hiện kê khai mà không có lý do chính đáng thì bị coi là từ chối kê khai. Sau thời hạn này, cá nhân sẽ không được phép kê khai bổ sung, số vàng đang cất giữ bị coi là bất hợp pháp và người sở hữu sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật.
  • Xử lý hành vi chống đối, phá hoại: Những cá nhân cố ý làm trái các quy định trong thể lệ, gây khó khăn cho công tác quản lý, tuyên truyền xuyên tạc gây hoang mang dư luận hoặc xúi giục người khác chống lại chủ trương của Chính phủ sẽ bị truy tố trước pháp luật tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi.

- Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành

  • Trách nhiệm của chính quyền địa phương: Ủy ban Hành chính các tỉnh, thành phố có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tuyên truyền, giải thích chính sách cho nhân dân; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Quân, Dân, Chính, Đảng và chỉ đạo sát sao các chi nhánh Ngân hàng Quốc gia địa phương để triển khai thực hiện hiệu quả thể lệ này.
  • Hiệu lực văn bản: Thể lệ này do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trung ương ban hành, có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các điều khoản trong thể lệ thuộc thẩm quyền quyết định của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trung ương.

NGÂN HÀNG QUỐC GIA
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA 
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 5261-TL/VB

Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 1958 

  

THỂ LỆ

VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN GIỮ VÀNG CHO NHÂN DÂN

Căn cứ điều 1 nghị định số 355-TTg ngày 16-07-1958 của Thủ tướng Chính phủ cấm các hiệu tư doanh và tư nhân không được buôn bán, tập trung có mục đích đầu cơ, xuất nhập khẩu các loại kim khí quý, ngọc trai và dùng các loại ấy để trao đổi, cầm cố, thanh toán nợ nần.
Căn cứ điều 7 nghị định nói trên quy định: “Mọi người đều có quyền cất giữ kim khí quý, ngọc trai, Ngân hàng quốc gia Việt Nam sẽ quy định thể lệ cấp giấy chứng nhận để bảo vệ quyền lợi cho người cất giữ và tránh sự gian lậu”.
Căn cứ điều 18 Thể lệ quản lý kim khí quý, đá quý, ngọc trai số 2154-TL/VB ngày 01-08-1958 của Ngân hàng quốc gia Việt Nam.
Căn cứ chỉ thị số 532-TTg ngày 11-12-1958 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp giấy chứng nhận giữ vàng cho nhân dân.
Để tăng cường việc quản lý vàng đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người có vàng.
Ngân hàng quốc gia Việt Nam quy định thể lệ cấp giấy chứng nhận giữ vàng cho nhân dân như sau:

Điều 1. – Những người Việt Nam hay kiều dân cư trú trên đất nước Việt Nam có số vàng từ 5 đồng cân tức 18 gờ-ram 75 trở lên (kể cả vàng ta và vàng tây) không kể đã làm thành đồ trang sức hay còn là vàng lá, vàng thoi, vàng nén, vàng vụn, vàng cốm, tiền vàng đúc từ các thời đại trước, v.v… đều phải xin giấy chứng nhận cất giữ.

Điều 2. – Giấy chứng nhận do Ngân hàng quốc gia hoặc cơ quan được ủy nhiệm cấp chỉ có giá trị hợp pháp về cất giữ vàng, không có giá trị cho việc vận chuyển, nhưng là một giấy tờ hợp pháp cần thiết phải có khi xin cấp giấy vận chuyển vàng. Những người có số vàng từ 5 đồng cân trở lên mà không có giấy chứng nhận thì coi là cất giữ vàng không hợp pháp, và phải xử lý theo điều 8 của nghị định số 355-TTg ngày 16-07-1958 của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 3. – Muốn được cấp giấy chứng nhận cất giữ vàng, người có vàng phải kê khai đúng số vàng và các loại vàng mình hiện có, họ tên và địa chỉ với Ngân hàng quốc gia địa phương hoặc với Ủy ban hành chính khu phố, hay Ủy ban Hành chính xã nơi mình cư trú mà đã được Ngân hàng quốc gia ủy nhiệm việc cấp giấy chứng nhận.

Điều 4. – Những người có vàng, ở khu phố nào hoặc xã nào thì sẽ kê khai với Ủy ban Hành chính khu phố hoặc Ủy ban hành chính xã đó để xin cấp giấy chứng nhận cất giữ. Những người có nhiều vàng: ở Hà Nội từ 5 lạng trở lên, ở Hải Phòng và Nam định từ 2 lạng trở lên, ở các tỉnh khác từ 1 lạng trở lên, muốn trực tiếp xin giấy chứng nhận tại Ngân hàng, thì phải đến kê khai tại trụ sở Ngân hàng quốc gia nơi mình ở.

Điều 5. – Mỗi người có vàng chỉ được kê khai ở một nơi và một lần: người đã kê khai ở Ủy ban hành chính thì không kê khai tại Ngân hàng quốc gia và ngược lại, một số vàng của một người chỉ được kê khai và xin cấp một giấy chứng nhận, trừ trường hợp thay đổi nói ở điều 7 bản thể lệ này.

Điều 6. – Những trẻ em và những người vị thành niên, nếu có đeo đồ trang sức bằng vàng thì số tư trang đó coi như của cha mẹ và cha mẹ chịu trách nhiệm kê khai vào phần của mình.

Trường hợp không có cha mẹ (chết hoặc vắng mặt lâu ngày không có liên lạc) thì việc kê khai để cấp giấy chứng nhận giữ vàng do các em và người vị thành niên đó đứng khai và sẽ do chính quyền địa phương xét và quyết định ai sẽ đứng tên nhận cấp giấy chứng nhận giữ vàng cho hợp.

Điều 7. – Sau khi đã được cấp giấy chứng nhận rồi mà có sự thay đổi về số lượng và hình thức khối vàng như: cho nhau, chia gia tài, mua thêm, bán bớt, đem vàng nguyên đánh thành đồ trang sức, v.v… thì người có vàng phải đến Ngân hàng quốc gia xin chứng nhận sự thay đổi. Nếu là trường hợp cho nhau thì phải khai rõ: cho người nào, ở đâu, lý do cho, nếu là chia gia tài thì phải xuất trình giấy chia gia tài có chính quyền chứng thực.

Những người mới mua thêm, được người khác cho, hoặc được chia gia tài; v.v… nếu số vàng cộng lại từ 5 đồng cân trở lên phải đến ngay Ngân hàng quốc gia để xin cấp giấy chứng nhận cất giữ.

Điều 8. – Việc kê khai để cấp giấy chứng nhận nhận đợt đầu đối với mỗi tỉnh hay thành phố, chỉ tiến hành trong thời hạn nhất định do Ủy ban Hành chính tỉnh hay thành phố quyết định và loan báo cho nhân dân biết trước.

Trong đợt kê khai này nếu người nào không có lý do chính đáng mà không kê khai thì coi như là đã từ chối kê khai, sau này không được kê khai nữa, số vàng cất giữ sẽ coi là không hợp pháp và người có vàng có thể bị trường phạt như đã nói ở điều 2.

Điều 9. – Những người cố ý làm sai các điều quy định trong thể lệ này, gây khó khăn, tuyên truyền xuyên tạc làm cho nhân dân hoang mang hoặc xúi giục chống lại việc thực hiện chủ trương này của Chính phủ, sẽ tùy trường hợp nặng nhẹ, đưa ra truy tố trước pháp luật.

Điều 10. – Ủy ban Hành chính các thành phố, và các tỉnh có trách nhiệm vạch kế hoạch tuyên truyền giải thích và biện pháp, thực hiện, kết hợp với các cơ quan Quân, Dân, Chính, Đảng và lãnh đạo chặt chẽ chi nhánh Ngân hàng quốc gia địa phương để bảo đảm thi hành tốt chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và bản thể lệ này.

Điều 11. – Bản thể lệ này do Ngân hàng quốc gia Việt Nam trung ương ban hành và có hiệu lực kể từ ngày công bố và sẽ do Ngân hàng quốc gia Việt Nam trung ương bổ sung hoặc thay đổi.

 

 

TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM
 



Lê Viết Lượng

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thể lệ 5261-TL/VB năm 1958 về cấp giấy chứng nhận giữ vàng cho nhân dân do Tổng giàm đốc Ngân hàng Quốc gia ban hành

Số hiệu: 5261-TL/VB
Loại văn bản: Văn bản khác
Ngày ban hành: 12/12/1958
Nơi ban hành: Ngân hàng quốc gia
Người ký: Lê Viết Lượng
Ngày công báo: 07/01/1959
Số công báo: Số 1
Ngày hiệu lực: 07/01/1958
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Tiền tệ - Ngân hàng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thể lệ 5261-TL/VB năm 1958 về cấp giấy chứng...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký