Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định số 81/2009/NĐ-CP được ban hành bởi Chính phủ nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp. Văn bản này tập trung điều chỉnh các quy định về an toàn kỹ thuật khi xây dựng lưới điện, quản lý hành lang an toàn, cũng như các chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với đất đai, nhà ở, công trình và cây cối nằm trong hoặc liền kề hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến xây dựng, vận hành, bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp và các chủ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản bị ảnh hưởng bởi hành lang an toàn lưới điện cao áp trên phạm vi cả nước.

Quy định an toàn khi xây dựng, cải tạo đường dây dẫn điện trên không

Khi xây dựng hoặc cải tạo đường dây dẫn điện trên không vượt qua các khu vực đặc thù như khu dân cư, nơi công cộng tập trung đông người, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, công trình quan trọng liên quan đến quốc phòng, an ninh, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã xếp hạng, phải tăng cường các biện pháp an toàn về điện và xây dựng bao gồm:

  • Yêu cầu về cột và dây dẫn: Cột điện phải là cột thép hoặc bê tông cốt thép với hệ số an toàn của cột, xà, móng cột không nhỏ hơn 1,2. Dây dẫn điện không được phép có mối nối trong khoảng cột, ngoại trừ dây dẫn có tiết diện từ 240mm2 trở lên thì cho phép tối đa một mối nối trên một dây. Hệ số an toàn của dây dẫn điện không nhỏ hơn 2,5.
  • Yêu cầu về cách điện: Phải bố trí cách điện kép cùng chủng loại và đặc tính kỹ thuật. Nếu mắc trên cách điện kiểu treo, dây dẫn điện và dây chống sét phải sử dụng khóa đỡ kiểu cố định. Hệ số an toàn của cách điện và các phụ kiện phải đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.
  • Khoảng cách an toàn từ dây dẫn đến mặt đất: Khoảng cách từ điểm thấp nhất của dây dẫn ở trạng thái võng cực đại đến mặt đất được quy định cụ thể theo cấp điện áp: đối với điện áp đến 35 kV tối thiểu là 14 m; đối với điện áp 110 kV tối thiểu là 15 m; đối với điện áp 220 kV tối thiểu là 18 m.
  • Bãi bỏ cấp điện áp 66 kV: Nghị định chính thức bãi bỏ các quy định liên quan đến cấp điện áp 66 kV, đồng thời thay thế các cụm từ tương ứng bằng cấp điện áp 110 kV và 220 kV trong các quy định liên quan.
  • Khoảng cách đối với các loại rừng và vườn cây: Đối với đường dây đi qua rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất hoặc vườn trồng cây, khoảng cách theo phương thẳng đứng từ chiều cao trung bình của cây đã phát triển tối đa đến dây dẫn điện thấp nhất khi dây ở trạng thái võng cực đại không nhỏ hơn quy định an toàn kỹ thuật.

Điều kiện tồn tại của nhà ở, công trình trong hành lang an toàn lưới điện

Nghị định quy định chi tiết các điều kiện để nhà ở, công trình xây dựng được phép tồn tại trong hành lang an toàn lưới điện hoặc khu vực liền kề:

  • Trong hành lang an toàn lưới điện áp đến 220 kV: Nhà ở, công trình không phải di dời nếu đáp ứng đủ các điều kiện: mái lợp và tường bao phải làm bằng vật liệu không cháy; các kết cấu kim loại của nhà ở, công trình phải được nối đất theo quy định kỹ thuật; không gây cản trở đường ra vào để kiểm tra, bảo dưỡng, thay thế các bộ phận công trình lưới điện cao áp; cường độ điện trường không quá 5 kV/m tại điểm bất kỳ ở ngoài nhà cách mặt đất một mét và không quá 1 kV/m tại điểm bất kỳ ở bên trong nhà cách mặt đất một mét. Khoảng cách từ bất kỳ bộ phận nào của nhà ở, công trình đến dây dẫn điện gần nhất khi dây ở trạng thái võng cực đại không nhỏ hơn: 3,0 m (đối với điện áp đến 35 kV); 4,0 m (đối với điện áp 110 kV); 6,0 m (đối với điện áp 220 kV).
  • Ngoài hành lang an toàn lưới điện áp 500 kV: Nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân nằm ngoài hành lang an toàn lưới điện, giữa hai đường dây dẫn điện trên không điện áp 500 kV được xem xét bồi thường, hỗ trợ và di dời khi cường độ điện trường lớn hơn quy định nêu trên, hoặc khoảng cách theo phương nằm ngang giữa hai dây dẫn pha ngoài cùng gần nhất của hai đường dây dẫn điện nhỏ hơn hoặc bằng 60 mét. Trường hợp chủ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản có nguyện vọng ở lại và cường độ điện trường vẫn bảo đảm an toàn thì được phép ở lại và được bồi thường, hỗ trợ diện tích đất, nhà ở như đối với khu vực trong hành lang an toàn.

Chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với nhà ở, công trình và đất đai

Các quy định về bồi thường, hỗ trợ một lần do hạn chế khả năng sử dụng đất và ảnh hưởng sinh hoạt được quy định cụ thể:

  • Bồi thường, hỗ trợ nhà ở, công trình trong hành lang: Đối với nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt không phải di dời khỏi hành lang lưới điện đến 220 kV, chủ sở hữu được bồi thường, hỗ trợ một lần do bị hạn chế khả năng sử dụng và ảnh hưởng trong sinh hoạt. Mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không lớn hơn 70% giá trị phần nhà ở, công trình phụ tính trên diện tích nằm trong hành lang theo đơn giá xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Trường hợp đất không đủ điều kiện bồi thường về đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ dựa trên điều kiện thực tế của từng địa phương.
  • Chi phí cải tạo, phá dỡ nhà ở cũ: Đối với nhà ở, công trình xây dựng trước ngày thông báo thực hiện dự án lưới điện cao áp mà chưa đáp ứng điều kiện an toàn, chủ đầu tư công trình lưới điện cao áp phải chịu kinh phí và tổ chức thực hiện việc cải tạo. Trường hợp chỉ bị phá dỡ một phần mà phần còn lại vẫn tồn tại, sử dụng được và đáp ứng điều kiện an toàn thì chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả, bồi thường phần giá trị bị phá dỡ và chi phí cải tạo hoàn thiện lại. Nếu không thể cải tạo được mà phải dỡ bỏ hoặc di dời, chủ sở hữu được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
  • Bồi thường, hỗ trợ về đất trong hành lang: Đất ở và các loại đất khác trong cùng thửa với đất ở của một chủ sử dụng trong hành lang an toàn lưới điện thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất thì chủ sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ một lần do hạn chế khả năng sử dụng đất. Diện tích đất ở được bồi thường, hỗ trợ là diện tích đất ở thực tế trong hành lang với mức bồi thường không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi đất ở tính trên diện tích đất nằm trong hành lang. Đối với các loại đất khác trên cùng thửa đất bị chiếm dụng khoảng không lớn hơn hạn mức đất ở, mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi các loại đất khác đó. Kinh phí chi trả được trích từ nguồn vốn đầu tư của chủ đầu tư công trình lưới điện cao áp.
  • Chuyển đổi mục đích sử dụng đất và hỗ trợ di chuyển: Khi chủ sử dụng đất phải di chuyển nhà ở ra ngoài hành lang an toàn lưới điện và có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng các loại đất khác bên ngoài hành lang thành đất ở phù hợp với quy hoạch, cơ quan quản lý đất đai địa phương sẽ làm thủ tục trình cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Nếu chủ sở hữu tự tìm được đất ở mới và tự thực hiện việc di chuyển thì được hỗ trợ chi phí di chuyển theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Quy định bồi thường đối với cây cối trong và ngoài hành lang an toàn

  • Cây trồng có trước khi thông báo thực hiện dự án công trình lưới điện cao áp và nằm trong hành lang an toàn, nếu thuộc diện phải chặt bỏ và cấm trồng mới, sẽ được bồi thường một lần theo quy định hiện hành.
  • Đối với cây không thuộc diện phải chặt bỏ hoặc cây ngoài hành lang nhưng có nguy cơ vi phạm khoảng cách an toàn, đơn vị quản lý vận hành có quyền kiểm tra, chặt, tỉa cây để đảm bảo an toàn cho đường dây dẫn điện trên không và thực hiện bồi thường một lần đối với một cây theo mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với thực tế địa phương.

Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp

  • Hiệu lực thi hành: Nghị định số 81/2009/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2009.
  • Quy định đối với dự án đang thực hiện: Các dự án đầu tư xây dựng công trình lưới điện cao áp đã được thi công trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt.
  • Điều chỉnh phương án bồi thường: Đối với các dự án, công trình đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ nhưng chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện điều chỉnh giá trị bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Nghị định này.

CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 81/2009/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2009

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 106/2005/NĐ-CP NGÀY 17 THÁNG 8 NĂM 2005 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐIỆN LỰC VỀ BẢO VỆ AN TOÀN CÔNG TRÌNH LƯỚI ĐIỆN CAO ÁP

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp (sau đây gọi là Nghị định số 106/2005/NĐ-CP) như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 2 như sau:

“2. Khi xây dựng, cải tạo đoạn đường dây dẫn điện trên không vượt qua khu dân cư, nơi công cộng thường xuyên tập trung đông người, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, công trình quan trọng liên quan đến an ninh, quốc phòng, khu di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được Nhà nước xếp hạng phải tăng cường các biện pháp an toàn về điện và xây dựng như sau:

a) Cột phải là cột thép hoặc bê tông cốt thép; hệ số an toàn của cột, xà, móng cột không nhỏ hơn 1,2;

b) Dây dẫn điện không được phép có mối nối trong khoảng cột, trừ dây dẫn điện có tiết diện từ 240mm2 trở lên cho phép có một mối nối cho một dây. Hệ số an toàn của dây dẫn điện không nhỏ hơn 2,5;

c) Cách điện phải bố trí kép cùng chủng loại và đặc tính kỹ thuật. Dây dẫn điện, dây chống sét nếu mắc trên cách điện kiểu treo phải sử dụng khóa đỡ kiểu cố định. Hệ số an toàn của cách điện và các phụ kiện phải đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định hiện hành;

d) Khoảng cách từ điểm thấp nhất của dây dẫn điện ở trạng thái võng cực đại đến mặt đất không nhỏ hơn quy định trong bảng sau:

Điện áp

Đến 35 kV

110 kV

220 kV

Khoảng cách

14 m

15 m

18 m

2. Sửa đổi Điều 3, Điều 4, Điều 5 như sau:

“Bãi bỏ các quy định đối với cấp điện áp 66 kV.”

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 như sau:

“1. Thay cụm từ “có điện áp từ 66 kV" tại điểm b khoản 1 bằng cụm từ “có điện áp từ 110 kV”.

2. Thay cụm từ “trạng thái tĩnh” tại khoản 1 bằng cụm từ “trạng thái võng cực đại”.

3. Bổ sung điểm d khoản 1

Đối với đường dây dẫn điện trong không vượt qua rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất, vườn trồng cây thì khoảng cách theo phương thẳng đứng từ chiều cao trung bình của cây đã phát triển tối đa đến dây dẫn điện thấp nhất khi dây ở trạng thái võng cực đại không nhỏ hơn quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP.

4. Thay cấp điện áp “66 - 220 kV" tại khoản 2 bằng cấp điện áp “110 và 220 kV”.

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

“Điều 6. Nhà ở, công trình trong hoặc ngoài hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không (sau đây gọi tắt là hành lang an toàn lưới điện)

1. Trong hành lang an toàn lưới điện điện áp đến 220 kV

Nhà ở, công trình không phải di dời khỏi hành lang an toàn lưới điện áp đến 220 kV nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Mái lợp và tường bao phải làm bằng vật liệu không cháy;

b) Các kết cấu kim loại của nhà ở, công trình phải được nối đất theo quy định về kỹ thuật nối đất.

c) Không gây cản trở đường ra vào để kiểm tra, bảo dưỡng, thay thế các bộ phận công trình lưới điện cao áp;

d) Khoảng cách từ bất kỳ bộ phận nào của nhà ở, công trình đến dây dẫn điện gần nhất khi dây ở trạng thái võng cực đại không nhỏ hơn quy định trong bảng sau:

Điện áp

Đến 35 kV

110 kV

220 kV

Khoảng cách

3,0 m

4,0 m

6,0 m

đ) Cường độ điện trường ≤ 5 kV/m tại điểm bất kỳ ở ngoài nhà cách mặt đất một mét và ≤ 1 kV/m tại điểm bất kỳ ở bên trong nhà cách mặt đất một mét.

Bộ Công Thương quy định chi tiết về nối đất theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

2. Ngoài hành lang an toàn lưới điện điện áp 500 kV.

Nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân ngoài hành lang an toàn lưới điện, giữa hai đường dây dẫn điện trên không điện áp 500 kV được xem xét bồi thường, hỗ trợ và di dời khi có một trong các điều kiện sau:

a) Cường độ điện trường lớn hơn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này;

b) Khoảng cách theo phương nằm ngang giữa hai dây dẫn pha ngoài cùng gần nhất của hai đường dây dẫn điện ≤ 60 mét.

3. Trường hợp nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân có khoảng cách như quy định tại điểm b khoản 2, nhưng cường độ điện trường đảm bảo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này và chủ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nguyện vọng ở lại thì được phép ở lại và được bồi thường, hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất ở, diện tích nhà ở và công trình phụ phục vụ sinh hoạt như đối với đất ở, nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt trong hành lang an toàn lưới điện quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 1 Nghị định này”.

5. Bổ sung Điều 6a như sau:

“Điều 6a. Bồi thường, hỗ trợ đối với nhà ở, công trình trong hành lang an toàn lưới điện

1. Nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân không phải di dời khỏi hành lang an toàn lưới điện điện áp đến 220 kV như quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định này thì chủ sở hữu nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng và ảnh hưởng trong sinh hoạt. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện một lần như sau:

a) Nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt có một phần hoặc toàn bộ diện tích nằm trong hành lang an toàn lưới điện, được xây dựng trên đất đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định của pháp luật, trước ngày thông báo thực hiện dự án công trình lưới điện cao áp được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thì được bồi thường, hỗ trợ phần diện tích trong hành lang an toàn lưới điện;

b) Mức bồi thường, hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không lớn hơn 70% giá trị phần nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt tính trên diện tích nằm trong hành lang an toàn lưới điện, theo đơn giá xây dựng mới của nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.

c) Trường hợp nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt được xây dựng trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ dựa trên điều kiện thực tế của từng địa phương.

2. Nhà ở, công trình được xây dựng trước ngày thông báo thực hiện dự án công trình lưới điện cao áp được cấp có thẩm quyền phê duyệt:

a) Nếu chưa đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 6 sửa đổi được quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định này (gọi là khoản 1 Điều 6 sửa đổi) thì chủ đầu tư công trình lưới điện cao áp phải chịu kinh phí và tổ chức thực hiện việc cải tạo nhằm đáp ứng các điều kiện đó;

b) Trường hợp chỉ bị phá dỡ một phần, phần còn lại vẫn tồn tại, sử dụng được và đáp ứng được các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 6 sửa đổi thì chủ đầu tư công trình lưới điện cao áp có trách nhiệm chi trả, bồi thường phần giá trị nhà, công trình bị phá dỡ và chi phí cải tạo hoàn thiện lại nhà, công trình theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ;

c) Trường hợp không thể cải tạo được để đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 6 sửa đổi, mà phải dỡ bỏ hoặc di dời, thì chủ sở hữu nhà ở, công trình được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật.”

6. Bổ sung Điều 6b như sau:

“Điều 6b. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất trong hành lang an toàn lưới điện

Đất ở, các loại đất khác trong cùng thửa với đất ở của một chủ sử dụng trong hành lang an toàn lưới điện thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất thì chủ sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện một lần như sau:

1. Đất ở được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng là loại đất ở được quy định tại các văn bản pháp luật về đất đai.

2. Diện tích đất ở được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng là diện tích đất ở thực tế trong hành lang an toàn lưới điện. Mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi đất ở, tính trên diện tích đất nằm trong hành lang.

3. Trên cùng một thửa đất, bao gồm đất ở và các loại đất khác của một chủ sử dụng đất, khi bị hành lang an toàn lưới điện chiến dụng khoảng không lớn hơn hạn mức đất ở thì phần diện tích các loại đất khác trên cùng thửa đất trong hành lang cũng được bồi thường, hỗ trợ. Mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi các loại đất khác đó tính trên diện tích các loại đất khác nằm trong hành lang.

4. Trường hợp đất ở không đủ điều kiện như quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ dựa trên điều kiện thực tế của từng địa phương.

5. Mức bồi thường, hỗ trợ quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều này do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể. Kinh phí chi trả từ nguồn vốn đầu tư của chủ đầu tư công trình lưới điện cao cáp.”

7. Bổ sung Điều 6c như sau:

“Điều 6c. Chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất khác sang đất ở

Khi chủ sử dụng đất phải di chuyển nhà ở ra ngoài hành lang an toàn lưới điện và có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng các loại đất khác bên ngoài hành lang thành đất ở mà phù hợp với quy hoạch thì cơ quan quản lý đất đai tại địa phương làm thủ tục trình cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Chủ sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất.”

8. Bổ sung Điều 6d như sau:

“Điều 6d. Hỗ trợ chi phí di chuyển

Ngoài việc được bồi thường, hỗ trợ đối với nhà ở, công trình được quy định tại khoản 5 Điều 1 và đất được quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị định này, nếu chủ sở hữu nhà ở tự tìm được đất ở mới và có nguyện vọng di chuyển khỏi hành lang an toàn lưới điện, thì tự thực hiện việc di chuyển và được hỗ trợ chi phí di chuyển theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.”

9. Bổ sung Điều 6đ như sau:

“Điều 6đ. Bồi thường đối với cây trong và ngoài hành lang an toàn lưới điện

1. Cây có trước khi thông báo thực hiện dự án công trình lưới điện cao áp và trong hành lang an toàn lưới điện, nếu phải chặt bỏ và cấm trồng mới theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP thì được bồi thường theo quy định hiện hành.

2. Cây có trước khi thông báo thực hiện dự án công trình lưới điện cao áp và trong hành lang thuộc loại không phải chặt bỏ và cấm trồng như quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP hoặc cây ngoài hành lang có nguy cơ vi phạm khoảng cách an toàn quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 106/2005/NĐ-CP thì đơn vị quản lý vận hành có quyền kiểm tra, chặt, tỉa cây để đảm bảo an toàn cho đường dây dẫn điện trên không và thực hiện bồi thường theo quy định.

3. Mức bồi thường đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được thực hiện một lần đối với một cây và do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, phù hợp với thực tế của địa phương.”

Điều 2. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 3. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2009.

2. Các dự án đầu tư xây dựng công trình lưới điện cao áp đã được thi công trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt.

3. Đối với các dự án, công trình đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ nhưng chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện điều chỉnh giá trị bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Nghị định này.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 81/2009/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 106/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp

Số hiệu: 81/2009/NĐ-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 12/10/2009
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
Ngày công báo: 22/10/2009
Số công báo: Từ số 481 đến số 482
Ngày hiệu lực: 01/12/2009
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 81/2009/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 106...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký