Giới thiệu chung về Nghị quyết 104/2015/QH13
Nghị quyết số 104/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015. Đây là văn bản pháp lý quan trọng quy định về việc thi hành Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016). Nghị quyết này đóng vai trò định hướng, giải quyết các vướng mắc chuyển tiếp giữa luật cũ và luật mới, bảo đảm tính thống nhất, liên tục và hiệu quả trong hoạt động xét xử hành chính tại Việt Nam.
1. Quy định chuyển tiếp về việc giải quyết các vụ án hành chính
Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2016), việc áp dụng pháp luật đối với các vụ án hành chính được thực hiện theo các nguyên tắc chuyển tiếp cụ thể như sau:
- Đối với vụ án ở giai đoạn sơ thẩm: Những vụ án hành chính đã được Tòa án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới tiến hành xét xử theo thủ tục sơ thẩm thì áp dụng các quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015 để giải quyết.
- Đối với vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Những vụ án hành chính đã được xét xử sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 và có kháng cáo, kháng nghị, nhưng việc xét xử phúc thẩm diễn ra từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì áp dụng quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015.
- Đối với việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đã kháng nghị trước ngày 01/7/2016: Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng đến ngày này mới xét xử thì áp dụng Luật tố tụng hành chính năm 2015 để giải quyết.
- Đối với việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm từ ngày 01/7/2016: Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà kể từ ngày này người có thẩm quyền mới thực hiện việc kháng nghị thì cả căn cứ kháng nghị và thủ tục xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đều phải tuân thủ Luật tố tụng hành chính năm 2015.
- Về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện: Đối với các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án cấp huyện đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển giao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
- Về án phí, lệ phí và chi phí tố tụng: Tòa án tiếp tục áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án và các chi phí tố tụng khác cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định mới. Đặc biệt, đối với các vụ án hành chính được giải quyết theo thủ tục rút gọn, mức án phí áp dụng phải thấp hơn so với mức án phí của thủ tục thông thường.
2. Quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính
Nghị quyết phân định rõ ràng việc áp dụng thời hiệu khởi kiện dựa trên thời điểm phát sinh vụ án hành chính nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự:
- Vụ án phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2016: Áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện tại Điều 104 của Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12.
- Vụ án phát sinh kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016: Áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện tại Điều 116 của Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13.
3. Quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án
Đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng tính đến thời điểm ngày 01 tháng 7 năm 2016 vẫn chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong, thì toàn bộ quá trình thi hành án tiếp theo sẽ được thực hiện theo các quy định của Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13.
4. Trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn thi hành
Để bảo đảm Luật tố tụng hành chính năm 2015 được triển khai đồng bộ và hiệu quả trên thực tế, Quốc hội giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan trung ương:
- Rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm chủ trì hoặc phối hợp rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về tố tụng hành chính để bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, hoặc kiến nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện các hoạt động này cho phù hợp với Luật tố tụng hành chính năm 2015.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và đào tạo cán bộ: Các cơ quan nêu trên cần khẩn trương củng cố tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mới trong giải quyết và thi hành án hành chính.
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Luật tố tụng hành chính năm 2015 đến cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Hướng dẫn thi hành: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành Nghị quyết này.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Nghị quyết số: 104/2015/QH13 | Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2015 |
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
QUYẾT NGHỊ:
Điều1
Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2016):
1. Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử theo thủ tục sơ thẩm thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết;
2. Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án xét xử theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà có kháng cáo, kháng nghị, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết;
3. Đối với những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết;
4. Đối với những bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 người có thẩm quyền kháng nghị mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Luật này;
5. Đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết;
6. Khi giải quyết các vụ án hành chính, Tòa án tiếp tục áp dụng các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án, chi phí tố tụng khác cho đến khi có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối với vụ án hành chính được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì mức án phí thấp hơn mức án phí áp dụng đối với vụ án hành chính được giải quyết theo thủ tục thông thường.
Điều2
Các vụ án hành chính phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 104 của Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12.
Đối với các vụ án hành chính phát sinh kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, thì áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 116 của Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13.
Điều3
Đối với bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 vẫn chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì được thi hành theo quy định của Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13.
Điều4
1. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính hiện hành để bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới, đề nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới phù hợp với quy định của Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 bảo đảm hiệu lực thi hành của Luật này.
2. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình khẩn trương củng cố tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự để bảo đảm đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án và thi hành án hành chính khi Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành.
3. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 trong cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân nhằm góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng của Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 trong bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1 Luật tố tụng hành chính 2010
- 2 Hiến pháp 2013
- 3 Luật tố tụng hành chính 2015
- 4 Nghị quyết 103/2015/QH13 về thi hành Bộ luật tố tụng dân sự do Quốc hội ban hành
- 5 Nghị quyết 109/2015/QH13 về thi hành Bộ luật hình sự do Quốc hội ban hành
- 6 Nghị quyết 110/2015/QH13 về thi hành Bộ luật tố tụng hình sự do Quốc hội ban hành
- 7 Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành quy định của Nghị quyết 103/2015/QH13 về thi hành Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 104/2015/QH13 về thi hành Luật tố tụng hành chính do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành