Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị quyết 110/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015, quy định chi tiết về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2016). Nghị quyết đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tiếp giữa hai bộ luật, phân định thẩm quyền, thời hạn tố tụng và phân công trách nhiệm cho các cơ quan liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.

Quy định chuyển tiếp trong giải quyết vụ án hình sự và các thủ tục tố tụng (Điều 1)

Kể từ ngày Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, việc xử lý các vụ án, thủ tục đang dở dang được thực hiện theo các nguyên tắc chuyển tiếp cụ thể sau đây:

  • Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đối với các vụ án đang được Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thụ lý, giải quyết theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 chưa kết thúc, thì thẩm quyền giải quyết tiếp tục áp dụng theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cho đến khi kết thúc vụ án. Tuy nhiên, các vấn đề tố tụng khác phát sinh sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố: Các trường hợp đang trong quá trình kiểm tra, xác minh nhưng chưa kết thúc tính đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 sẽ được tính thời hạn giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Về áp dụng biện pháp tạm giam: Đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng không thuộc trường hợp được tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, hoặc thời hạn tạm giam đã vượt quá thời hạn quy định của Bộ luật mới, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phù hợp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Về thời hạn điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Các vụ án hình sự do các cơ quan này đang tiến hành điều tra nhưng chưa kết thúc trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 sẽ áp dụng thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Về áp dụng thủ tục rút gọn: Các vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn nhưng chưa kết thúc điều tra, chưa quyết định truy tố hoặc chưa đưa ra xét xử sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì thời hạn tố tụng được tính theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, thuộc trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn của Bộ luật mới nhưng xét xử sau ngày này, thì áp dụng thủ tục rút gọn theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để giải quyết.
  • Về xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm: Các vụ án đã xét xử sơ thẩm theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng xét xử phúc thẩm từ ngày này trở đi sẽ áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để giải quyết. Tương tự, các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo Bộ luật cũ nhưng có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 chưa giải quyết, hoặc kháng nghị sau ngày này, đều áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để giải quyết.
  • Về người bào chữa và chi phí tố tụng: Giấy chứng nhận người bào chữa đã cấp theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tiếp tục có giá trị sử dụng cho đến khi kết thúc việc bào chữa. Đồng thời, Tòa án tiếp tục áp dụng các quy định hiện hành về án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác cho đến khi có quy định mới từ cơ quan có thẩm quyền.

Công tác bảo đảm điều kiện thi hành và lộ trình thực hiện ghi âm, ghi hình (Điều 2)

Để bảo đảm các quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được triển khai hiệu quả trên thực tế, Nghị quyết giao các nhiệm vụ trọng tâm cho Chính phủ và các cơ quan tư pháp:

  • Đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất: Giao Chính phủ đầu tư kinh phí bảo đảm cho các hoạt động chỉ định người bào chữa, ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can, sao chép, số hóa tài liệu hồ sơ vụ án hình sự, giám định tư pháp và các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
  • Lộ trình thực hiện ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can:
    • Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trình tự, thủ tục thực hiện, sử dụng, bảo quản và lưu trữ kết quả ghi âm, ghi hình có âm thanh trong quá trình tố tụng.
    • Bộ trưởng Bộ Công an phối hợp với các bộ, ngành liên quan (Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ) xây dựng đề án về cơ sở vật chất, bộ máy, cán bộ và lộ trình cụ thể để thực hiện việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can.
    • Bộ trưởng Bộ Công an quyết định các địa phương, đơn vị có đủ điều kiện để thực hiện ghi âm, ghi hình từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Chậm nhất đến ngày 01 tháng 01 năm 2019, phải thực hiện thống nhất việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can trên phạm vi toàn quốc.
  • Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao rà soát các văn bản hướng dẫn Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 để bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới; kiến nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi các văn bản liên quan cho phù hợp với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Kiện toàn bộ máy và đào tạo cán bộ: Các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án và bổ trợ tư pháp khẩn trương kiện toàn tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức; bổ sung các điều kiện cần thiết khác để đáp ứng yêu cầu giải quyết án hình sự và thi hành án. Đồng thời, phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đến cán bộ và Nhân dân.

Trách nhiệm hướng dẫn và thi hành (Điều 3)

Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Nghị quyết này, bảo đảm sự chuyển giao đồng bộ và hiệu quả giữa hai giai đoạn tố tụng hình sự.

QUỐC HỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Nghị quyết số: 110/2015/QH13

Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2015

NGHỊ QUYẾT

VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1

Kể từ ngày Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2016):

1. Đối với những vụ án do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đang thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 (sau đây gọi là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 chưa kết thúc thì thẩm quyền giải quyết tiếp tục được áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cho đến khi kết thúc vụ án, còn các vấn đề khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

2. Đối với những tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đang trong quá trình kiểm tra, xác minh nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 chưa kết thúc thì thời hạn giải quyết được tính theo thời hạn của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

3. Đối với những bị can, bị cáo đang bị tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 không được tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 hoặc thời hạn tạm giam vượt quá thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát, Tòa án quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đang áp dụng hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

4. Đối với những vụ án hình sự do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đang tiến hành điều tra nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 chưa kết thúc điều tra thì thời hạn điều tra được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

5. Đối với những vụ án hình sự đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 chưa kết thúc điều tra, chưa quyết định việc truy tố hoặc chưa đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm thì thời hạn điều tra, truy tố, xét xử được tính theo thời hạn của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với những bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 và thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 456 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử thì áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để giải quyết;

6. Đối với những vụ án hình sự đã xét xử sơ thẩm theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 mà có kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để giải quyết.

Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 mà có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng chưa giải quyết hoặc kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để giải quyết;

7. Đối với những trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận người bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì người bào chữa tiếp tục sử dụng cho đến khi kết thúc việc bào chữa;

8. Tòa án tiếp tục áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án và các chi phí tố tụng khác cho đến khi có quy định mới của cơ quan có thẩm quyền.

Điều 2

1. Giao Chính phủ đầu tư kinh phí để bảo đảm việc thực hiện các quy định về chỉ định người bào chữa, ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can, sao chép, số hóa tài liệu trong hồ sơ vụ án hình sự, giám định tư pháp và hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Giao Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Giao Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Nội vụ xây dựng đề án về cơ sở vật chất, bộ máy, cán bộ và lộ trình cụ thể thực hiện việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Giao Bộ trưởng Bộ Công an quyết định cụ thể nơi có điều kiện để thực hiện việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh hoạt động hỏi cung bị can kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Chậm nhất đến ngày 01 tháng 01 năm 2019 thì thực hiện thống nhất việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can trên phạm vi toàn quốc.

2. Giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 để bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới; đề nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan hữu quan bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

3. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình khẩn trương kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, cơ sở vật chất; bổ sung, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ, công chức của Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án và các cơ quan bổ trợ tư pháp; bổ sung các điều kiện cần thiết khác để bảo đảm đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành; phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 trong cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân nhằm phát huy hiệu quả của Bộ luật này trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Điều 3

Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Nguyễn Sinh Hùng

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết 110/2015/QH13 về thi hành Bộ luật tố tụng hình sự do Quốc hội ban hành

Số hiệu: 110/2015/QH13
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 27/11/2015
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
Ngày công báo: 31/12/2015
Số công báo: Từ số 1275 đến số 1276
Ngày hiệu lực: 27/11/2015
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Trách nhiệm hình sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết 110/2015/QH13 về thi hành Bộ luật...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký