Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Pháp lệnh Đê điều năm 2000 được ban hành nhằm quy định toàn diện về công tác xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng đê điều và hộ đê. Văn bản do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký ban hành, thiết lập hành lang pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.

Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng

Pháp lệnh này quy định các hoạt động liên quan đến hệ thống đê điều bao gồm: đê ngăn nước lũ, nước biển; kè bảo vệ đê; cống tưới, tiêu qua đê và các công trình phụ trợ khác. Đối tượng áp dụng của Pháp lệnh là mọi cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

- Nguyên tắc quản lý, đầu tư và phân cấp đê điều

  • Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý các loại đê điều được xây dựng bằng mọi nguồn vốn, ưu tiên đầu tư ngân sách và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào việc xây dựng, bảo vệ đê điều.
  • Hệ thống đê điều được phân thành 5 cấp dựa trên tầm quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của từng vùng được bảo vệ, bao gồm: cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III và cấp IV. Chính phủ là cơ quan quy định tiêu chuẩn và phê duyệt cấp cho từng tuyến đê.
  • Việc xây dựng, tu bổ đê điều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời tuân thủ các quy trình, quy phạm và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan.
  • Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất hoặc cho phép khai thác đất để phục vụ xây dựng, tu bổ đê điều, người bị ảnh hưởng sẽ được đền bù hoặc hỗ trợ theo quy định của pháp luật.

- Phạm vi bảo vệ đê điều và các hành vi bị nghiêm cấm

  • Phạm vi bảo vệ đê điều bao gồm bản thân công trình đê điều và vùng phụ cận có ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn đê. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết về vùng phụ cận dựa trên cấp đê và đặc điểm kỹ thuật của từng công trình.
  • Pháp lệnh nghiêm cấm tuyệt đối các hành vi phá hoại, gây tổn hại cho đê điều, cụ thể bao gồm: khai thác đất, đá, cát, sỏi, khoáng sản trái phép; đào ao, giếng, nạo vét luồng lạch trong phạm vi bảo vệ đê; vận hành công trình trái quy trình kỹ thuật; xây dựng nhà cửa, công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ đê, bãi sông, lòng sông (trừ công trình chuyên dùng phục vụ phòng chống thiên tai, giao thông, quốc phòng, an ninh).
  • Cấm đổ chất thải, để vật liệu trái phép trên đê (trừ vật liệu dự trữ phòng chống lụt bão); cấm nổ phá gây nguy hại cho đê (trừ trường hợp nổ phá phân lũ, chậm lũ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền); cấm sử dụng xe cơ giới vượt quá tải trọng cho phép hoặc đi trên đê khi có sự cố, có biển cấm trong mùa lũ; cấm cuốc giẫy cỏ, chất rơm rạ, củi rác trên đê.

- Chế độ cấp phép các hoạt động trong phạm vi bảo vệ đê điều

  • Trong trường hợp đặc biệt, các hoạt động như cắt xẻ đê, khoan thăm dò, xây dựng công trình chuyên dùng, neo đậu tàu thuyền, để vật liệu tạm thời hoặc các hoạt động gây chấn động ảnh hưởng đến đê điều phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép.
  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thẩm quyền cấp phép đối với các hoạt động cắt xẻ đê, khoan thăm dò, xây dựng công trình chuyên dùng và các hoạt động gây chấn động đối với tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt.
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền cấp phép đối với tất cả các hoạt động nêu trên đối với đê cấp IV, và cấp phép cho hoạt động neo đậu tàu thuyền, để vật liệu tạm thời đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt.
  • Các hoạt động ngoài phạm vi bảo vệ đê điều nhưng có ảnh hưởng đến an toàn đê và thoát lũ (như khai thác cát sỏi, nạo vét luồng lạch) phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt) hoặc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với đê cấp IV).

- Quy định về sử dụng đất và xử lý công trình hiện hữu trong phạm vi bảo vệ đê

  • Mái đê, cơ đê phải được trồng cỏ hoặc áp dụng các biện pháp chống xói mòn. Đất trong vùng phụ cận chỉ được dùng để trồng cây chắn sóng, lúa và cây ngắn ngày.
  • Đối với nhà cửa, công trình đã tồn tại trước ngày Pháp lệnh có hiệu lực: bắt buộc phải di dời toàn bộ các công trình nằm trên mặt đê, mái đê, cơ đê và trong phạm vi 5 mét kể từ chân đê hiện tại.
  • Các công trình nằm ngoài phạm vi 5 mét đến hết ranh giới bảo vệ đê được tiếp tục sử dụng nhưng giữ nguyên quy mô, không được mở rộng và phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đê.
  • Công trình ở bãi sông, lòng sông nếu gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc thoát lũ thì phải di dời theo kế hoạch của cơ quan nhà nước và được xem xét đền bù, hỗ trợ theo quy định.

- Lực lượng quản lý đê điều

  • Lực lượng chuyên trách quản lý đê điều thuộc biên chế nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp quản lý, có trách nhiệm trực tiếp tuần tra, kiểm soát và bảo vệ đê điều.
  • Nhà nước khuyến khích các địa phương thành lập lực lượng nhân dân quản lý đê điều không thuộc biên chế để hỗ trợ công tác bảo vệ đê tại cơ sở, chế độ thù lao cho lực lượng này do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

- Công tác hộ đê, cứu hộ đê và ứng phó tình huống khẩn cấp

  • Công tác hộ đê phải được tiến hành thường xuyên trong mùa lũ, bão. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chủ lực trong công tác hộ đê và cứu hộ đê.
  • Trong tình huống khẩn cấp khi hệ thống đê bị uy hiếp nghiêm trọng, Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp phân lũ, chậm lũ liên tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp phân lũ, chậm lũ trong phạm vi địa phương theo phương án đã được phê duyệt.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền huy động nhân lực, vật tư, phương tiện của tổ chức, cá nhân để cứu hộ đê và quyết định di dời dân ra khỏi vùng nguy hiểm. Tài sản được huy động phải được hoàn trả hoặc bồi thường nếu bị thiệt hại; người bị thương hoặc thiệt hại tính mạng khi tham gia hộ đê được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.

- Trách nhiệm quản lý nhà nước về đê điều

  • Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đê điều trên phạm vi cả nước. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng này.
  • Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm phối hợp thực hiện quản lý nhà nước và xây dựng phương án cứu hộ các công trình thuộc phạm vi quản lý liên quan đến an toàn đê.
  • Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ đê điều và tổ chức hộ đê, cứu hộ đê trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.
  • Thanh tra chuyên ngành về đê điều (thuộc hệ thống thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước) thực hiện nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đê điều.

- Khen thưởng và xử lý vi phạm

  • Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê được khen thưởng theo quy định.
  • Mọi hành vi vi phạm pháp luật về đê điều, thiếu trách nhiệm trong quản lý hoặc bao che cho hành vi vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hiệu lực thi hành

Pháp lệnh Đê điều năm 2000 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001. Pháp lệnh này thay thế cho Pháp lệnh về đê điều ngày 09 tháng 11 năm 1989. Mọi quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ.

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
*****

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*******

Số: 26/2000/PL-UBTVQH10

Hà Nội, ngày 24 tháng 08 năm 2000

PHÁP LỆNH

VỀ ĐÊ ĐIỀU

Đê điều là công trình quan trọng được nhân dân ta xây dựng, giữ gìn, tu bổ qua nhiều thế hệ nhằm ngăn nước lũ, nước biển, bảo vệ tính mạng của nhân dân, bảo vệ sản xuất, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân;
Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng đê điều và hộ đê;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Luật tài nguyên nước;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2000;
Pháp lệnh này quy định về đê điều.

Chương 1

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

1. Pháp lệnh này quy định việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng đê điều và hộ đê.

2. Đê điều quy định trong Pháp lệnh này bao gồm:

a) Đê ngăn nước lũ, nước biển;

b) Kè bảo vệ đê;

c) Cống tưới, tiêu qua đê;

d) Công trình phụ trợ khác.

Điều 2

1. Nhà nước thống nhất quản lý các loại đê điều được xây dựng bằng mọi nguồn vốn.

2. Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng, tu bổ đê điều; có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư dưới nhiều hình thức, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng đê điều và hộ đê.

Điều 3

Căn cứ tầm quan trọng về kinh tế - xã hội, yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh của từng vùng được tuyến đê bảo vệ khỏi bị ngập lụt, đê được phân thành cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III và cấp IV.

Chính phủ quy định tiêu chuẩn cấp đê và phê duyệt cấp của từng tuyến đê.

Điều 4

Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân thực hiện pháp luật về đê điều.

Điều 5

Nghiêm cấm mọi hành vi phá hoại, gây tổn hại cho đê điều.

Chương 2

XÂY DỰNG VÀ TU BỔ ĐÊ ĐIỀU

Điều 6

Việc xây dựng mới hoặc tu bổ đê điều phải theo quy hoạch đê điều được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tuân theo các quy định của pháp luật về quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về xây dựng và bảo vệ đê điều.

Điều 7

1. Việc xây dựng, tu bổ đê điều thường xuyên được ưu tiên sử dụng lao động nghĩa vụ công ích theo quy định của pháp luật.

2. Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất, cho phép khai thác đất để xây dựng, tu bổ, nâng cấp đê điều thì người bị thu hồi đất, bị khai thác đất được đền bù hoặc hỗ trợ theo quy định của pháp luật.

Điều 8

Kinh phí xây dựng, tu bổ đê điều được Nhà nước ưu tiên đầu tư.

Chính phủ quy định kinh phí xây dựng, tu bổ đê điều cho mỗi cấp đê.

Chương 3

BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG ĐÊ ĐIỀU

Điều 9

Phạm vi bảo vệ đê điều bao gồm đê điều và vùng phụ cận có ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của đê điều.

Việc quy định vùng phụ cận phải căn cứ vào cấp đê, đặc điểm kỹ thuật công trình đê điều và yêu cầu của việc bảo vệ đê điều và cứu hộ đê.

Chính phủ quy định vùng phụ cận của đê điều.

Điều 10

Tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ bảo vệ đê điều.

Người nào phát hiện hành vi gây tổn hại hoặc đe dọa đến an toàn của đê điều, các hư hại đê điều do thiên tai gây ra phải kịp thời ngăn chặn và báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc nhân viên quản lý đê điều.

Điều 11

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1. Khai thác đất, đá, cát, sỏi, khoáng sản khác; đào ao, giếng và nạo vét luồng lạch trong phạm vi bảo vệ đê điều;

2. Vận hành công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều trái quy trình, quy phạm kỹ thuật đã được quy định;

3. Xây dựng công trình, nhà cửa trong phạm vi bảo vệ đê điều, ở bãi sông, lòng sông, trừ công trình chuyên dùng được phép xây dựng phục vụ phòng, chống lụt, bão, giao thông, quốc phòng, an ninh và công trình đặc biệt khác;

4. Đổ chất thải trong phạm vi bảo vệ đê điều, ở bãi sông, lòng sông; để vật liệu trên đê, trừ vật liệu dự trữ phòng, chống lụt, bão;

5. Nổ phá gây nguy hại đến an toàn đê điều, trừ trường hợp nổ phá để phân lũ, chậm lũ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định;

6. Sử dụng xe cơ giới đi trên đê vượt quá tải trọng cho phép của đê và cống qua đê; sử dụng xe cơ giới có 4 bánh trở lên đi trên đê khi đê có sự cố hoặc có biển cấm khi lũ vượt quá mức báo động số 3, trừ xe kiểm tra đê, xe hộ đê được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động hoặc cấp phép và những xe có yêu cầu đặc biệt về an ninh, quốc phòng, cứu thương, cứu hỏa;

7. Cuốc giẫy cỏ, chất đống rơm rạ, củi rác ở đê;

8. Các hành vi khác ảnh hưởng trực tiếp tới an toàn của đê điều và thoát lũ nhanh, trừ những hoạt động được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này.

Điều 12

Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức, cá nhân cần tiến hành một trong các hoạt động sau đây phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép:

1. Cắt xẻ đê để xây dựng công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều;

2. Khoan thăm dò trong phạm vi bảo vệ đê điều;

3. Xây dựng công trình chuyên dùng phục vụ phòng, chống lụt, bão, giao thông, quốc phòng, an ninh và công trình đặc biệt khác trong phạm vi bảo vệ đê điều;

4. Sử dụng đê, kè, cống làm nơi neo đậu tàu, thuyền, bè mảng, để vật liệu tạm thời;

5. Các hoạt động gây chấn động liên quan đến an toàn đê điều.

Điều 13

1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép cho các hoạt động quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 12 của Pháp lệnh này đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt.

2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp phép cho các hoạt động quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này đối với đê cấp IV và tại khoản 4 Điều 12 của Pháp lệnh này đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt.

Điều 14

Việc cấp phép xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình, nạo vét luồng lạch hoặc khai thác cát, sỏi không thuộc phạm vi bảo vệ đê điều nhưng có ảnh hưởng đến an toàn đê điều, thoát lũ phải được thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt, của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với đê cấp IV.

Điều 15

Việc cải tạo đê để kết hợp làm đường giao thông phải bảo đảm an toàn đê điều.

Tổ chức, cá nhân cải tạo đê để kết hợp làm đường giao thông phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt, của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với đê cấp IV.

Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác mặt đê đã cải tạo để kết hợp làm đường giao thông có trách nhiệm bảo dưỡng, sửa chữa mặt đê đó; việc bảo dưỡng, sửa chữa phải tuân theo tiêu chuẩn kỹ thuật về đê điều và giao thông.

Điều 16

1. Mái đê, cơ đê phải trồng cỏ hoặc áp dụng biện pháp khác để chống xói mòn.

2. Đất trong vùng phụ cận của đê điều chỉ được trồng cây chắn sóng, lúa và cây ngắn ngày.

Việc khai thác cây chắn sóng phải theo sự hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về đê điều.

Điều 17

Việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh trong phạm vi bảo vệ đê điều thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh, đồng thời phải phù hợp với những quy định của Pháp lệnh này và những quy định khác của pháp luật về đê điều.

Điều 18

1. Nhà cửa, công trình hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều và ở bãi sông, lòng sông trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực, trừ công trình chuyên dùng phục vụ phòng, chống lụt, bão, giao thông, quốc phòng, an ninh và công trình đặc biệt khác được xử lý theo nguyên tắc sau:

a) Nhà cửa, công trình ở mặt đê, mái đê, cơ đê và trong phạm vi 5m kể từ chân đê hiện tại đối với mọi cấp đê đều phải di dời;

b) Nhà cửa, công trình từ vị trí cách chân đê hiện tại 5m đến hết phạm vi bảo vệ đê điều được tiếp tục sử dụng nhưng không được mở rộng; chủ sở hữu, người sử dụng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đê điều; trường hợp xây dựng sau ngày công bố Pháp lệnh về đê điều năm 1989 mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì căn cứ vào mức độ vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật;

c) Nhà cửa, công trình ở bãi sông, lòng sông mà không gây ảnh hưởng trực tiếp đến thoát lũ thì được tiếp tục sử dụng; trường hợp gây ảnh hưởng trực tiếp đến thoát lũ thì phải di dời; trường hợp gây ảnh hưởng trực tiếp đến thoát lũ nhanh thì phải di dời trước. Việc di dời nhà cửa, công trình được thực hiện theo kế hoạch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Chủ sở hữu, người sử dụng nhà cửa, công trình phải di dời được xem xét đền bù thiệt hại hoặc hỗ trợ kinh phí theo quy định của pháp luật.

Chính phủ quy định việc thực hiện Điều này.

Điều 19

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan để quy định thống nhất mẫu các loại biển báo về đê điều.

Điều 20

1. Lực lượng chuyên trách quản lý đê điều thuộc biên chế nhà nước do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý có trách nhiệm trực tiếp quản lý đê điều.

Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và sắc phục của lực lượng chuyên trách quản lý đê điều do Chính phủ quy định.

2. Nhà nước khuyến khích các địa phương tổ chức lực lượng nhân dân quản lý đê điều không thuộc biên chế nhà nước nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ đê điều tại địa phương.

Tổ chức, nhiệm vụ và chế độ thù lao cho lực lượng này do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định.

Chương 4

HỘ ĐÊ

Điều 21

1. Việc hộ đê phải được tiến hành thường xuyên trong mùa lũ, bão và phải cứu hộ kịp thời khi đê điều bị lũ, bão uy hiếp hoặc có nguy cơ bị uy hiếp.

2. Việc cứu hộ các công trình liên quan đến an toàn của đê được coi như cứu hộ đê.

Điều 22

1. Chính phủ quyết định và chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc hộ đê, cứu hộ đê để bảo đảm an toàn đê điều.

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm giúp Chính phủ chỉ đạo công tác hộ đê, cứu hộ đê.

3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm lập và thực hiện phương án cứu hộ công trình có liên quan đến an toàn của đê thuộc phạm vi quản lý của mình và tham gia thực hiện cứu hộ đê cho địa phương theo quyết định huy động của Chính phủ.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc hộ đê, cứu hộ đê để bảo đảm an toàn đê điều theo tiêu chuẩn thiết kế.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng và phê duyệt các phương án hộ đê, cứu hộ đê trong địa phương; kiểm tra, đôn đốc và chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện phương án đó.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức thực hiện phương án hộ đê, cứu hộ đê đã được phê duyệt.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ tổ chức thực hiện cứu hộ đê cho địa phương khác theo lệnh huy động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 23

1. Việc chỉ đạo, chỉ huy hộ đê, cứu hộ đê của Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão trung ương, Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cấp ở địa phương thực hiện theo quy định của Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão.

2. Quân đội có trách nhiệm hộ đê, cứu hộ đê và là lực lượng chủ lực trong công tác này.

Điều 24

1. Trong tình huống khẩn cấp, khi hệ thống đê bị uy hiếp nghiêm trọng, Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp phân lũ, chậm lũ có liên quan đến hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên theo phương án đã được Chính phủ phê duyệt; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định biện pháp phân lũ, chậm lũ có liên quan đến bảo vệ an toàn cho đê điều chống lũ trong phạm vi địa phương theo phương án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

2. Chính phủ quy định cụ thể các tình huống khẩn cấp cần phân lũ, chậm lũ; các biện pháp di dân an toàn, bảo đảm sản xuất và đời sống của nhân dân, khắc phục hậu quả ngập lụt, trợ cấp cho nhân dân vùng bị ảnh hưởng phân lũ, chậm lũ.

Điều 25

1. Trong trường hợp đê điều, công trình có liên quan đến an toàn đê điều xảy ra sự cố hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp theo thẩm quyền phải huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để bảo vệ, cứu hộ; quyết định và tổ chức thực hiện việc di chuyển dân ra khỏi vùng nguy hiểm để bảo đảm an toàn.

2. Tổ chức, cá nhân được huy động phải chấp hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vật tư, phương tiện được huy động phải hoàn trả sau khi sử dụng, nếu bị thiệt hại thì được bồi thường theo quy định của pháp luật. Người bị thương, bị thiệt hại tính mạng trong khi tham gia hộ đê, cứu hộ đê được xét hưởng chế độ, chính sách quy định tại các điều 28, 29, 30 và 31 của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích.

Chương 5

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÊ ĐIỀU

Điều 26

Nội dung quản lý nhà nước về đê điều bao gồm:

1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện điều tra cơ bản, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về xây dựng, tu bổ, quản lý, bảo vệ, sử dụng đê điều và hộ đê, cứu hộ đê;

2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn về xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng đê điều và hộ đê, cứu hộ đê;

3. Quyết định biện pháp xử lý trong trường hợp đê điều có sự cố xảy ra hoặc có nguy cơ bị uy hiếp;

4. Cấp, thu hồi giấy phép về các hoạt động phải có phép trong phạm vi bảo vệ đê điều;

5. Tổ chức việc thu thập và quản lý các thông tin, tư liệu về hệ thống đê điều và công trình có liên quan tới an toàn đê điều;

6. Đầu tư và tổ chức việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng đê điều, hộ đê, cứu hộ đê; đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật, nghiệp vụ cho những người làm công tác đê điều;

7. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức, kinh nghiệm về quản lý, bảo vệ đê điều cho cộng đồng;

8. Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về đê điều; giải quyết khiếu nại, tố cáo về đê điều;

9. Chỉ đạo việc thực hiện quan hệ quốc tế trong lĩnh vực đê điều.

Điều 27

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đê điều.

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về đê điều.

3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện việc quản lý nhà nước về đê điều theo sự phân công của Chính phủ.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về đê điều trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.

Chính phủ quy định cụ thể việc phân công trách nhiệm, phân cấp quản lý nhà nước về đê điều.

Điều 28

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn đê điều trong phạm vi địa phương theo tiêu chuẩn thiết kế.

Điều 29

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc tu bổ, quản lý, bảo vệ đê điều và hộ đê, cứu hộ đê; xử lý các vi phạm pháp luật về đê điều theo thẩm quyền.

Điều 30

Thanh tra về đê điều là thanh tra chuyên ngành, thuộc hệ thống thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước, có nhiệm vụ:

1. Thanh tra việc thực hiện pháp luật về đê điều;

2. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đê điều.

Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của Thanh tra chuyên ngành về đê điều.

Chương 6

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 31

Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ đê điều và hộ đê, cứu hộ đê được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 32

1. Người nào có hành vi phá hoại đê điều, khoan, đào, xẻ, sử dụng đê điều trái phép hoặc vi phạm các quy định khác của Pháp lệnh này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm hoặc bao che cho người khác vi phạm pháp luật về đê điều; thiếu trách nhiệm trong việc thi hành pháp luật về đê điều thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương 7

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 33

Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2001.

Pháp lệnh này thay thế Pháp lệnh về đê điều ngày 09 tháng 11 năm 1989.

Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.

Điều 34

Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.

Nông Đức Mạnh

(đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Pháp lệnh Đê điều năm 2000

Số hiệu: 26/2000/PL-UBTVQH10
Loại văn bản: Pháp lệnh
Ngày ban hành: 24/08/2000
Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Người ký: Nông Đức Mạnh
Ngày công báo: 31/10/2000
Số công báo: Số 40
Ngày hiệu lực: 01/01/2001
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Pháp lệnh Đê điều năm 2000?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký