Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định số 237/1999/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm quyết định các phương án điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón trong năm 2000, bảo đảm tiêu thụ lúa gạo hàng hóa cho nông dân và cung ứng đủ vật tư phân bón cho sản xuất nông nghiệp.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Quyết định này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm các Bộ, ngành Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng các doanh nghiệp đầu mối và ngoài đầu mối thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón tại Việt Nam trong năm 2000.

Chỉ tiêu định hướng và phân bổ xuất khẩu gạo năm 2000

Chính phủ phê duyệt chỉ tiêu định hướng xuất khẩu gạo năm 2000 ở mức 4,30 triệu tấn (không tính lượng gạo sản xuất tại khu vực miền Bắc và miền Trung). Chỉ tiêu này được phân bổ cụ thể như sau:

  • Các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo trên địa bàn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh được phân bổ 2,90 triệu tấn. Đối tượng này bao gồm doanh nghiệp nhà nước địa phương, doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Lương thực miền Nam và các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác trên địa bàn.
  • Các Tổng công ty, Công ty của Trung ương và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến gạo xuất khẩu được phân bổ 1,20 triệu tấn.
  • Các doanh nghiệp ngoài đầu mối thuộc mọi thành phần kinh tế tìm kiếm được thị trường mới được phân bổ 0,20 triệu tấn.

Cơ chế giao và điều chỉnh chỉ tiêu xuất khẩu gạo

  • Đối với doanh nghiệp địa phương và doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Lương thực miền Nam tại đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm xem xét, quyết định phân bổ và điều chỉnh cụ thể trong phạm vi tổng chỉ tiêu được giao. Việc ủy thác xuất khẩu thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành dưới sự hướng dẫn của Bộ Thương mại.
  • Đối với các Tổng công ty, Công ty Trung ương và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Bộ Thương mại thống nhất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để quyết định phân bổ và điều chỉnh cụ thể.
  • Đối với doanh nghiệp ngoài đầu mối: Bộ Thương mại xem xét cho phép xuất khẩu trực tiếp khi doanh nghiệp tìm được thị trường mới với các hợp đồng có giá cả và điều kiện thương mại tốt.
  • Khuyến khích xuất khẩu gạo sản xuất tại các tỉnh phía Bắc và miền Trung qua các cảng tại khu vực này. Bộ Thương mại hướng dẫn chi tiết nhằm bảo đảm cân đối tiêu dùng nội địa và hiệu quả xuất khẩu.

Điều hành thị trường tập trung và các hợp đồng của Chính phủ

  • Đối với các thị trường tập trung: Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với Ban Chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón cùng Hiệp hội Lương thực Việt Nam cử doanh nghiệp đầu mối đại diện giao dịch, ký kết và phân chia hợp đồng công khai, hiệu quả. Bộ Thương mại xúc tiến ký kết các thỏa thuận cấp Chính phủ để tăng tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp.
  • Đối với gạo xuất khẩu theo kế hoạch trả nợ, viện trợ hoặc thanh toán hàng nhập khẩu của Chính phủ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính bố trí nguồn và thông báo cho Bộ Thương mại để giao doanh nghiệp đầu mối thực hiện giao dịch.

Chính sách nhập khẩu phân bón năm 2000

  • Các doanh nghiệp đầu mối thuộc mọi thành phần kinh tế được phép nhập khẩu các loại phân bón hợp pháp theo nhu cầu thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh và không được Nhà nước bù lỗ.
  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Thương mại thông báo định kỳ nhu cầu phân bón theo từng vụ, từng vùng và cập nhật giá cả thế giới để doanh nghiệp chủ động kế hoạch.
  • Riêng đối với phân bón NPK, phân lân nung chảy và Supe lân: Chỉ được phép nhập khẩu từ ngày 01 tháng 4 năm 2000 sau khi Bộ Tài chính và Ban Vật giá Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu hoặc mức phụ thu phù hợp.

Các biện pháp hỗ trợ tài chính và bình ổn giá

  • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các Ngân hàng Thương mại ưu tiên bố trí nguồn vốn, bảo đảm cho doanh nghiệp vay đủ và kịp thời để thu mua lúa gạo và nhập khẩu phân bón. Trường hợp thiếu vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ có biện pháp hỗ trợ tái cấp vốn.
  • Ban Vật giá Chính phủ chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính xây dựng phương án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định mức giá sàn mua lúa trước mỗi vụ thu hoạch, kèm theo cơ chế tài chính bảo đảm thực hiện mức giá sàn này nhằm bảo vệ lợi ích của nông dân.
  • Ban Chỉ đạo điều hành phối hợp với Hiệp hội Lương thực Việt Nam và Ban Vật giá Chính phủ thường xuyên cập nhật, hướng dẫn giá giao dịch tham chiếu để tránh tình trạng doanh nghiệp bị ép giá trên thị trường quốc tế.

Tổ chức thực hiện và chuyển tiếp chỉ tiêu

  • Hạn ngạch xuất khẩu gạo và hạn mức nhập khẩu phân bón giao trong năm 1999 có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 1999. Các hợp đồng dở dang của năm 1999 được phép tiếp tục thực hiện và tính vào chỉ tiêu của năm 2000.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và Bộ trưởng các Bộ liên quan trực tiếp chỉ đạo hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trực thuộc, bảo đảm tiêu thụ hết lúa hàng hóa cho nông dân với giá có lợi và bình ổn thị trường trong nước.
  • Các Bộ, ngành, địa phương và Hiệp hội Lương thực Việt Nam thực hiện chế độ báo cáo định kỳ lên Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn phát sinh.

Hiệu lực thi hành

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 237/1999/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 1999

 

QUYẾT ĐỊNH

CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 237/1999/QĐ-TTG NGÀY 24 THÁNG 12 NĂM 1999 VỀ ĐIỀU HÀNH XUẤT KHẨU GẠO, NHẬP KHẨU PHÂN BÓN NĂM 2000

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

QUYẾT ĐỊNH:

I. VỀ XUẤT KHẨU GẠO

Điều 1. Phê duyệt chỉ tiêu định hướng xuất khẩu gạo trong năm 2000 ở mức 4,30 triệu tấn, không kể gạo sản xuất ở khu vực miền Bắc và miền Trung và phân bổ như sau:

a) Các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo trên địa bàn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh 2,90 triệu tấn (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước đầu mối xuất khẩu gạo thuộc ủy ban nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh, các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo là thành viên trực thuộc Tổng công ty Lương thực miền Nam; doanh nghiệp đầu mối thuộc các thành phần kinh tế khác trên địa bàn này).

b) Các Tổng công ty, Công ty của Trung ương, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến gạo xuất khẩu: 1,20 triệu tấn.

c) Các doanh nghiệp ngoài đầu mối (của tất cả các thành phần kinh tế) tìm được thị trường mới: 0,20 triệu tấn.

Chỉ tiêu định hướng nêu tại điểm a và b Điều này được giao ngay một lần để triển khai thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2000 (như phụ lục số 01 kèm theo Quyết định này).

Điều 2. Về việc giao chỉ tiêu xuất khẩu gạo năm 2000:

a) Việc phân bổ và điều chỉnh chỉ tiêu xuất khẩu gạo cho các đơn vị nêu ở mục a Điều 1 Quyết định này do Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét, quyết định cụ thể trong phạm vi tổng chỉ tiêu định hướng được giao cho các tỉnh, thành phố. Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ giao chỉ tiêu cho các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo.

Việc ủy thác xuất khẩu được thực hiện theo Điều 9, mục 2 Chương 1, Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ. Bộ Thương mại có hướng dẫn chung để thực hiện.

b) Việc phân bổ và điều chỉnh chỉ tiêu cho các đơn vị nêu ở mục b, Điều 1 Quyết định này do Bộ Thương mại thống nhất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định cụ thể.

c) Giao Bộ Thương mại xem xét cho phép các doanh nghiệp ngoài đầu mối xuất khẩu gạo tìm được thị trường mới xuất khẩu trên cơ sở các hợp đồng cụ thể, có giá cả và các điều kiện thương mại tốt.

Điều 3. Xuất khẩu gạo sản xuất ở các tỉnh khu vực phía Bắc và miền Trung:

Khuyến khích xuất khẩu gạo sản xuất ở khu vực các tỉnh phía Bắc và miền Trung. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có khách hàng và thị trường được xuất khẩu gạo tại các cảng miền Bắc và miền Trung. Bộ Thương mại hướng dẫn cụ thể trên cơ sở đảm bảo ổn định thị trường tiêu dùng trong nước và hiệu quả xuất khẩu.

Điều 4. Về điều hành và định hướng thị trường:

Để ổn định và đảm bảo cho các thị trường tập trung, Bộ Thương mại chủ trì cùng Ban Chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón (được thành lập theo Quyết định số 20/1999/QĐ-TTg ngày 13 tháng 02 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ) cùng Hiệp Hội lương thực Việt Nam chịu trách nhiệm cử doanh nghiệp đầu mối đại diện giao dịch, ký hợp đồng và phân giao chỉ tiêu thực hiện các hợp đồng này cho các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo thực hiện, đảm bảo công khai, có hiệu quả.

Giao Bộ Thương mại sớm xúc tiến việc ký các văn bản thỏa thuận cấp Chính phủ đối với những thị trường tập trung nêu trên, nhằm từng bước tăng dần số lượng gạo Việt Nam xuất khẩu trực tiếp vào các thị trường này.

Điều 5. Đối với gạo xuất khẩu theo kế hoạch trả nợ, viện trợ và thanh toán hàng nhập khẩu của Chính phủ, giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính bố trí cụ thể và thông báo cho Bộ Thương mại biết để Bộ Thương mại giao cho doanh nghiệp đầu mối đại diện giao dịch, ký hợp đồng với từng nước. Bộ Thương mại và Ban chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón và Hiệp Hội lương thực Việt Nam tổ chức phân giao hợp đồng đã ký cho các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo thực hiện, đảm bảo công khai, có hiệu quả.

II. VỀ NHẬP KHẨU PHÂN BÓN.

Điều 6. Các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh nhập khẩu phân bón thuộc các thành phần kinh tế nhập khẩu các loại phân bón được phép tiêu thụ tại Việt Nam theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh phân bón của mình, nhà nước không bù lỗ.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Bộ Thương mại thông báo nhu cầu phân bón các loại của từng vụ, từng vùng và giá cả phân bón trên thị trường thế giới để các doanh nghiệp có kế hoạch chủ động nhập và kinh doanh phân bón cho phù hợp, có hiệu quả.

Điều 7. Việc nhập khẩu phân bón NPK, phân lân nung chảy, Supe lân chỉ được phép thực hiện từ ngày 01 tháng 4 năm 2000, sau khi thuế suất thuế nhập khẩu (hoặc mức phụ thu) đối với các loại phân bón này được điều chỉnh. Giao Bộ Tài chính và Ban Vật giá Chính phủ sớm trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thuế suất thuế nhập khẩu (hoặc mức phụ thu) để thực hiện từ ngày 01 tháng 4 năm 2000.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 8. Căn cứ Quyết định này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định giao chỉ tiêu xuất khẩu gạo cho các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo trên địa bàn tỉnh, thành phố tại mục a Điều 1 Quyết định này và thông báo cho Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón, Tổng cục Hải quan và các cơ quan hữu quan biết để phối hợp điều hành.

Việc giao bổ sung chỉ tiêu xuất khẩu gạo (ngoài chỉ tiêu định hướng đã được giao từ đầu năm) đối với các doanh nghiệp nêu tại mục a Điều 1 Quyết định này, do Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định sau khi thỏa thuận với Bộ Thương mại và thông báo để Tổng cục Hải quan biết; đối với các doanh nghiệp nêu tại mục b Điều 1 Quyết định này, do Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định và thông báo để Tổng cục Hải quan biết.

Điều 9. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố, Bộ trưởng các Bộ căn cứ chỉ tiêu định hướng xuất khẩu gạo được giao, nhu cầu phân bón các loại (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn) trực tiếp điều hành việc xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón của các doanh nghiệp trực thuộc; đảm bảo kịp thời tiêu thụ hết lúa hàng hóa với giá có lợi cho nông dân, đảm bảo mức giá sàn khi được Chính phủ công bố; đảm bảo bình ổn giá lương thực, giá phân bón các loại trên thị trường nội địa và xuất nhập khẩu có hiệu quả.

Điều 10. Hạn ngạch xuất khẩu gạo và hạn mức nhập khẩu phân bón đã được giao trong năm 1999 có hiệu lực thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12 năm 1999.

Đối với các hợp đồng đang thực hiện của năm 1999, được phép tiếp tục thực hiện và tính vào chỉ tiêu của năm 2000.

Điều 11. Giao Ban Chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón phối hợp với Hiệp hội Lương thực Việt nam và Ban Vật giá Chính phủ, thông báo, hướng dẫn tình hình thị trường và giá cả thị trường thế giới; tổng hợp và hướng dẫn giá giao dịch để các doanh nghiệp tham khảo nhằm bảo đảm hiệu quả kinh doanh, tránh tình trạng bị ép giá.

Điều 12. Căn cứ Quyết định này, Quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc của Bộ trưởng Bộ Thương mại về giao chỉ tiêu xuất khẩu gạo cụ thể cho các doanh nghiệp, Tổng cục Hải quan có hướng dẫn chung để cơ quan Hải quan địa phương làm thủ tục xuất khẩu.

Điều 13. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các Ngân hàng Thương mại bố trí các nguồn vốn, bảo đảm cho các doanh nghiệp vay đủ vốn và kịp thời để mua lúa gạo và nhập khẩu phân bón. Trường hợp Ngân hàng Thương mại không đủ nguồn vốn, Ngân hàng Nhà nước có biện pháp hỗ trợ để Ngân hàng Thương mại có đủ vốn cho vay.

Điều 14. Giao Ban Vật giá Chính phủ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, căn cứ tình hình sản xuất trình Thủ tướng Chính phủ quyết định mức giá sàn trước vụ thu hoạch và cơ chế tài chính bảo đảm thực hiện mức giá sàn đã được quyết định trên.

Điều 15. Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thương mại, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Trưởng Ban Vật giá Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón, Chủ tịch Hiệp Hội lương thực Việt Nam định kỳ báo cáo kết quả thực hiện việc xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón lên Thủ tướng Chính phủ và kiến nghị những giải pháp cần thiết để đảm bảo nhu cầu phân bón cho sản xuất và tiêu thụ hết lúa hàng hóa cho nông dân.

Điều 16. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan trực thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn và thi hành Quyết định này.

 

Nguyễn Công Tạn

(Đã ký)

 

PHỤ LỤC SỐ 01

GIAO CHỈ TIÊU ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU GẠO NĂM 2000
(Kèm theo Quyết định số: 237/1999/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 1999)

Đơn vị tính: 1000 tấn

STT

Tỉnh, doanh nghiệp

Số lượng

A

Địa phương

2.900

1

An Giang

480

2

Cần Thơ

450

3

Đồng Tháp

300

4

Long An

240

5

Vĩnh Long

300

6

Kiên Giang

200

7

Tiền Giang

310

8

Trà Vinh

110

9

Sóc Trăng

250

10

Bạc Liêu

60

11

Cà Mau

60

12

Bến Tre

30

13

Thành phố Hồ Chí Minh

110

 

 

 

B

Các doanh nghiệp Trung ương và ĐTNN

1.200

C

Các doanh nghiệp ngoài đầu mối

200

 

Tổng cộng

4.300

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 237/1999/QĐ-TTg về điều hành xuất khẩu gạo, nhập khẩu phân bón năm 2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 237/1999/QĐ-TTg
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 24/12/1999
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Nguyễn Công Tạn
Ngày công báo: 31/01/2000
Số công báo: Số 4
Ngày hiệu lực: 24/12/1999
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Thương mại
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 237/1999/QĐ-TTg về điều hành xuất...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký