Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Sắc lệnh số 21 do Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ban hành nhằm quy định về việc tổ chức lại các Tòa án quân sự trong tình thế đặc biệt lúc bấy giờ. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho hệ thống tài phán quân sự, góp phần bảo vệ chính quyền cách mạng và nền độc lập non trẻ của đất nước thông qua việc xét xử kịp thời các hành vi phản cách mạng và xâm hại an ninh quốc gia.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Sắc lệnh này điều chỉnh việc tổ chức, thẩm quyền xét xử, thành phần nhân sự và thủ tục tố tụng của các Tòa án quân sự được thiết lập tại ba kỳ bao gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Đối tượng áp dụng của Tòa án quân sự là tất cả các cá nhân (không phân biệt quốc tịch hay địa vị) có hành vi phạm tội gây phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bất kể hành vi đó được thực hiện trước hay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công (ngày 19 tháng 8 năm 1945). Tuy nhiên, Sắc lệnh loại trừ đối tượng là binh sĩ quân đội; các vụ án mà phạm nhân là binh sĩ, dù giữ vai trò chính phạm hay tòng phạm, đều thuộc thẩm quyền tự xét xử của cơ quan quân đội (nhà binh) theo quy định riêng.

Nội dung cốt lõi của Sắc lệnh

  • Thành lập và phân định quản hạt: Các Tòa án quân sự sẽ được thiết lập tại những địa điểm cần thiết dựa trên nghị định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nghị định này đồng thời sẽ ấn định rõ ràng phạm vi quản hạt của từng tòa án cụ thể. Ngoài các tội danh xâm hại độc lập quốc gia, Tòa án quân sự còn có thẩm quyền xét xử các tội phạm khác theo quy định của các sắc lệnh được ban hành sau đó.
  • Cơ cấu tổ chức Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử của Tòa án quân sự khi ngồi xử phải bao gồm ba thành viên: một Chánh án và hai Hội thẩm. Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thẩm quyền chỉ định một ủy viên quân sự giữ chức Chánh án và một ủy viên chính trị giữ chức Hội thẩm thứ nhất. Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi thỏa hiệp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ chỉ định một thẩm phán chuyên môn giữ chức Hội thẩm thứ hai. Nhằm đảm bảo tính linh hoạt trong tình hình chiến sự, tại Trung Kỳ và Nam Kỳ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thể ủy quyền chỉ định cho Chủ tịch Ủy ban hành chính kỳ, và Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể ủy quyền cho Chánh nhất Tòa Thượng thẩm.
  • Cơ quan buộc tội và quyền bào chữa của bị cáo: Vai trò buộc tội tại phiên tòa do Công cáo ủy viên đảm nhiệm. Nhân sự này do Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đồng chỉ định bằng một nghị định chung (tại Trung Kỳ và Nam Kỳ có thể ủy quyền cho Chưởng lý Tòa Thượng thẩm và Chủ tịch Ủy ban Hành chính kỳ). Công cáo ủy viên có thể được lựa chọn từ quân đội, Ban trinh sát hoặc từ các thẩm phán chuyên môn. Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư, người khác bào chữa cho mình. Phiên tòa bắt buộc phải có một lục sự chịu trách nhiệm ghi chép các nội dung tranh luận, giữ án từ và hồ sơ tài liệu liên quan.
  • Nguyên tắc xét xử và kiểm soát quyền lực: Các thẩm phán của Tòa án quân sự tiến hành xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và lương tâm của mình. Ngược lại, các Công cáo ủy viên hoạt động dưới sự kiểm soát trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp, đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt các mệnh lệnh do hai Bộ trưởng cùng ký (hoặc do các cơ quan được ủy quyền tại Trung Kỳ và Nam Kỳ ký duyệt).
  • Hình thức và địa điểm xét xử: Tòa án quân sự xét xử công khai và có thể họp ngoài trụ sở chính để phục vụ yêu cầu thực tế. Trong trường hợp có lý do đặc biệt, tòa án có thể quyết định xét xử kín. Tuy nhiên, dù xét xử theo hình thức nào, việc nghị án bắt buộc phải diễn ra trong phòng kín và bản án phải được tuyên bố công khai trước công chúng.
  • Hệ thống hình phạt và xử lý tài sản: Tòa án quân sự có thẩm quyền tuyên các mức án bao gồm: tha bổng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạt tù từ 1 năm đến 10 năm; phạt khổ sai từ 5 năm đến 20 năm; và hình phạt cao nhất là xử tử hình. Tòa án có thể áp dụng đồng thời hình phạt giam/tử hình kết hợp với tịch thu tài sản. Toàn bộ tài sản bị tịch thu của tội nhân sẽ được sung vào quỹ của toàn quốc. Ngoài ra, tòa án có quyền tuyên bố không có thẩm quyền giải quyết vụ án nếu không thuộc phạm vi điều chỉnh.
  • Chế định án treo: Đối với hình phạt tù, nếu có các tình tiết giảm nhẹ đáng được khoan hồng, Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo để tạm đình chỉ việc thi hành án. Thời gian thử thách là 5 năm kể từ ngày tuyên án. Nếu trong 5 năm này tội nhân không phạm tội mới bị Tòa án quân sự xử lý thì bản án cũ sẽ bị hủy bỏ và coi như không có; ngược lại, nếu tái phạm, bản án treo sẽ lập tức được đem thi hành.
  • Hiệu lực của bản án và quyền xin ân giảm: Các quyết định của Tòa án quân sự có hiệu lực thi hành ngay lập tức và bị cáo không có quyền chống án (kháng cáo). Ngoại lệ duy nhất áp dụng đối với hình phạt tử hình: tội nhân có quyền đệ đơn xin ân giảm lên Chủ tịch Chính phủ, bản án tử hình sẽ hoãn thi hành để chờ quyết định cuối cùng của Chủ tịch nước. Khi tuyên án tử hình, Chánh án bắt buộc phải giải thích quyền này cho tội nhân và hỏi rõ ý nguyện của họ; câu trả lời của tội nhân phải được ghi trực tiếp vào bản án, nếu không bản án sẽ bị coi là vô giá trị. Riêng tại Nam Bộ, Sắc lệnh ngày 24/12/1945 ủy quyền ân giảm cho Ban thường vụ của Ủy ban nhân dân Nam Bộ vẫn tiếp tục giữ nguyên hiệu lực thi hành.

Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp

Sắc lệnh số 21 có hiệu lực áp dụng ngay sau 48 giờ kể từ thời điểm ký ban hành. Sắc lệnh này chính thức bãi bỏ toàn bộ các sắc lệnh về Tòa án quân sự đã ban hành trước đó, bao gồm các sắc lệnh ngày 13/9/1945, 26/9/1945, 29/9/1945, 28/12/1945 và ngày 15/1/1946 nhằm thống nhất hệ thống pháp luật quân sự. Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm thi hành chi tiết các điều khoản của Sắc lệnh này, trong đó các chi tiết về thủ tục tố tụng cụ thể tại các tòa án quân sự sẽ do nghị định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ấn định.

SẮC LỆNH

TỔ CHỨC CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 21 NGÀY 14 THÁNG 2 NĂM 1946

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Chiểu chi Sắc lệnh ngày 13-9-1945, 26-9-1945, 29-9-1945, 28-12-1945, 15-1-1946 về Toà án quân sự;

Xét cần phải tổng hợp các sắc lệnh kể trên và bổ khuyết mấy điều;

Theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả thuận;

RA SẮC LỆNH:

Điều 1: Trong tình thế đặc biệt hiện thời, những toà án quân sự thiết lập tại Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ tổ chức theo quy tắc định trong Sắc lệnh này.

Điều 2: Toà án quân sự xử tất cả các người nào phạm một việc gì, sau hay trước ngày 19 tháng 8 dương lịch năm 1945, có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Trừ những việc nào mà phạm nhân là binh sĩ, dù là tòng phạm hay chính phạm, thì thuộc về nhà binh tự xử lấy.

Điều 3: Toà án quân sự xử cả những tội phạm khác do sắc lệnh ấn định sau.

Điều 4: Toà án quân sự sẽ thiết lập ở những nơi cần thiết do nghị định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nghị định ấy sẽ ấn định quản hạt của mỗi toà.

Điều 5: Toà án quân sự lập thành như sau:

Ngồi xử có Chánh án và hai Hội thẩm. Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ chỉ định một uỷ viên quân sự giữ chức Chánh án và một uỷ viên chính trị ngồi ghế Hội thẩm. Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi thoả hiệp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ chỉ định một thẩm phán chuyên môn ngồi ghế hội thẩm thứ nhì. ở Trung kỳ và Nam kỳ quyền chỉ định ấy ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thể uỷ cho ông Chủ tịch Uỷ ban hành chính kỳ, ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể uỷ cho ông Chánh nhất Toà Thượng thẩm.

Đứng buộc tội là một Công cáo uỷ viên do hai ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ làm một nghị định chỉ định. ở Trung kỳ và Nam kỳ hai ông Bộ trưởng có thể uỷ quyền chỉ định ấy cho hai ông Chưởng lý Toà Thượng thẩm và Chủ tịch Uỷ ban Hành chính. Uỷ viên Chính phủ ngồi ghế công cáo có thể lấy ở trong quân đội, trong Ban trinh sát hay trong các thẩm phán chuyên môn.

Bị cáo có quyền tự bênh vực lấy hay nhờ luật sư hoặc một người khác bênh vực cho.

Một viên lục sự ngồi chép các điều tranh luận, giữ án từ và giấy má.

Điều 6: Các thẩm phán của Tòa án quân sự xét xử theo luật pháp và lương tâm mình.

Các công cáo uỷ viên trực tiếp đặt dưới quyền kiểm soát của hai ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp và phải tuân theo mệnh lệnh do hai ông Bộ trưởng này cùng ký. Tại Trung kỳ và Nam kỳ quyền ấy ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thể uỷ cho ông Chủ tịch Uỷ ban Hành chính ký, ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể uỷ cho ông Chưởng lý Tòa thượng thẩm.

Điều 7: Tòa án quân sự xử công khai và có thể họp ngoài trụ sở. Nếu có duyên cớ đặc biệt tòa có thể quyết định xử kín được.

Nhưng dù vào trường hợp nào tòa án cũng thẩm nghị trong phòng kín và tuyên bố bản án trước công chúng.

Điều 8: Tòa án quân sự có thể tuyên án

1 - Tha bổng

2 - Tịch thu một phần hay tất cả tài sản

3 - Phạt tù từ một năm đến 10 năm

4 - Phạt khổ sai từ 5 năm đến 20 năm

5 - Xử tử

Tòa án có thể vừa tuyên phạt giam hay phạt tử hình, vừa xử tịch thu một phần hay tất cả tài sản của tội nhân.

Tòa án có thể tuyên rằng mình không có thẩm quyền

Điều 9: Tài sản tịch thu của các tội nhân sẽ cho vào quỹ của toàn quốc.

Điều 10: Khi phạt tù tòa có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng. Bản án xử treo sẽ tạm đình việc thi hành. Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội mhân không bị tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có. Nếu trong 5 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành.

Điều 11: Những quyết nghị của tòa án quân sự sẽ đem thi hành ngay, không có quyền chống án, trừ trường hợp sau này:

Nếu bản án tuyên xử tử, thì tội nhân có quyền đệ đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm. Bản án sẽ hoãn thi hành chờ quyết nghị của ông Chủ tịch Chính phủ.

Mỗi khi toà án quân sự kết án xử tử, ông Chánh án bắt buộc phải báo cho tội nhân biết rằng có quyền xin Chủ tịch Chính phủ ân giảm và hỏi hắn có muốn đệ đơn xin không.

Câu trả lời của tội nhân phải ghi vào bản án; nếu không bản án thành vô giá trị.

Điều 12: Sắc lệnh ngày 24/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ uỷ quyền ân giảm cho Ban thường vụ của Uỷ ban nhân dân Nam Bộ vẫn còn hiệu lực.

Điều 13: Các chi tiết về thủ tục thi hành tại các toà án quân sự sẽ do nghị định ông Bộ trưởng Tư Pháp ấn định.

Điều 14: Sắc lệnh này sẽ áp dụng ngay 48 giờ sau khi ký.

Điều 15: Nay huỷ bỏ các Sắc lệnh về Toà án quân sự ngày 13/9/45, 26/9/45, 29/9/45, 28/12/45, 15/1/46.

Điều 16: Các Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Trưởng Bộ Tư pháp chiểu Sắc lệnh thi hành.

 

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

 

 

Văn bản liên quan cùng nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Sắc lệnh số 21 về việc tổ chức các Toà án quân sự do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành

Số hiệu: 21
Loại văn bản: Sắc lệnh
Ngày ban hành: 14/02/1946
Nơi ban hành: Chủ tịch nước
Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày công báo: 02/03/1946
Số công báo: Số 9
Ngày hiệu lực: 01/03/1946
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Sắc lệnh số 21 về việc tổ chức các Toà án quâ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký