Sắc lệnh số 89/SL được ban hành bởi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm ấn định thể lệ giảm tức, xóa nợ, hoãn nợ cũ và nghiêm cấm các thủ đoạn bóc lột bằng mọi cách ở thôn quê. Đây là một chính sách nhân văn, bảo vệ quyền lợi của người dân nghèo, cán bộ, chiến sĩ trong thời kỳ kháng chiến, đồng thời thiết lập trật tự tín dụng lành mạnh tại nông thôn.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Sắc lệnh
Sắc lệnh áp dụng đối với các quan hệ vay mượn tài sản (bao gồm tiền mặt, thóc gạo hoặc các loại sản vật khác) được thực hiện trước và sau ngày ban hành văn bản. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp bao gồm người đi vay (đặc biệt là dân nghèo, chiến sĩ, cán bộ kháng chiến, người bị thiên tai, tai nạn chiến tranh) và người cho vay tại khu vực nông thôn.
Quy định về mức trần lãi suất tối đa đối với nợ cũ
Để hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, Sắc lệnh quy định áp dụng mức trần lãi suất tối đa đối với các món nợ vay trước ngày ban hành văn bản như sau:
- Đối với nợ vay bằng tiền: Lợi suất tối đa được hạ xuống dưới mức 18% một năm (tương đương 1,5% một tháng).
- Đối với nợ vay bằng thóc hoặc sản vật: Lợi suất tối đa được hạ xuống dưới mức 20% một năm (tương đương 10% cho một vụ mùa).
Các trường hợp được xóa bỏ hoàn toàn nợ cũ
Sắc lệnh quy định cụ thể 4 trường hợp người đi vay được xóa nợ, không phải trả lại cả gốc lẫn lãi:
- Các khoản nợ cũ mà tính đến ngày ban hành Sắc lệnh, người vay đã trả số tiền lãi cộng dồn bằng gấp đôi số vốn ban đầu. Trong trường hợp số lãi đã trả mới bằng số vốn gốc, người vay chỉ còn nghĩa vụ hoàn trả nốt phần vốn gốc.
- Các khoản nợ của dân nghèo vay từ trước ngày 19 tháng 8 năm 1945 mà qua xem xét thực tế hiện nay hoàn toàn không còn khả năng chi trả.
- Các khoản nợ cũ vay của những đối tượng đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết án do có hành vi làm phương hại đến nền độc lập quốc gia.
- Trường hợp người đi vay là Vệ quốc quân, quân đội địa phương, dân quân du kích, cán bộ chính quyền hoặc cán bộ đoàn thể có hoàn cảnh nghèo khó, đã từ trần hoặc bị đối phương sát hại trong khi thi hành nhiệm vụ, thì toàn bộ các khoản nợ vay (không phân biệt thời điểm vay) đều được xóa bỏ.
Các trường hợp được hoãn nợ và miễn tính lãi
Nhằm hỗ trợ các đối tượng gặp khó khăn do hoàn cảnh khách quan, Sắc lệnh cho phép hoãn trả nợ cũ và không tính lãi trong thời gian hoãn đối với các trường hợp:
- Khoản nợ cũ của những người hiện đang sinh sống trong các đô thị lớn bị tạm chiếm.
- Khoản nợ cũ vay trước ngày ban hành Sắc lệnh của các chiến sĩ nghèo đang tòng ngũ; thời gian hoãn nợ được kéo dài suốt thời kỳ chiến sĩ đó phục vụ trong quân ngũ.
- Khoản nợ cũ (vay trước khi xảy ra sự cố) của những người bị thiệt hại do thiên tai hoặc tai nạn chiến tranh, lâm vào hoàn cảnh nghèo túng không thể trả nợ; thời gian hoãn nợ dao động từ 1 năm đến 3 năm tùy theo mức độ thiệt hại.
Nghiêm cấm hành vi cho vay lãi chồng gốc và chế tài xử phạt
Sắc lệnh thiết lập các quy định nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn hành vi bóc lột tài chính:
- Nghiêm cấm tuyệt đối việc cho vay lãi chồng thành gốc (lãi mẹ đẻ lãi con).
- Người nào sử dụng các thủ đoạn gian dối, man trá hoặc đầu cơ, bóc lột để cho vay sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Vi phạm lần đầu sẽ bị phạt tiền từ 1 đến 3 lần giá trị số tiền gốc đã cho vay. Nếu tái phạm, người vi phạm sẽ bị phạt tù từ 1 tháng đến 1 năm, hoặc có thể bị áp dụng đồng thời cả hình phạt tù và phạt tiền.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tổ chức thực hiện
Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ vay nợ được phân định thẩm quyền rõ ràng:
- Các vụ việc tranh tụng về nợ thông thường hoặc truy tố người vi phạm quy định cấm của Sắc lệnh này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng thông thường.
- Riêng đối với các món nợ cũ phát sinh trước ngày ban hành Sắc lệnh, thẩm quyền hòa giải hoặc quyết định việc giảm lãi, xóa nợ, hoãn nợ được giao cho Ban giảm tô giảm tức xã và Hội đồng giảm tô giảm tức tỉnh thực hiện.
- Liên Bộ Nội vụ - Tư pháp - Canh nông chịu trách nhiệm ban hành hướng dẫn chi tiết và phối hợp tổ chức thi hành Sắc lệnh này trên phạm vi cả nước.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 89/SL NGÀY 22 THÁNG 5 NĂM 1950
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Chiểu Sắc lệnh số 78-SL ngày 14 tháng 7 năm 1949 về việc giảm tô;
Chiểu Sắc lệnh số 26-SL ngày 15 tháng 2 năm 1950 thành lập Ban giảm tô xã;
Chiểu đề nghị của Bộ trưởng Bộ Canh nông và chính sách giảm tức;
Theo quyết nghị của Hội đồng Chính phủ sau khi Ban thường trực Quốc hội thoả thuận;
RA SẮC LỆNH:
Điều 1: Việc giảm lãi và xoá hay hoãn nợ cũ với việc cấm đoán các thủ đoạn bóc lột bằng mọi cách ở thôn quê, nay quy định như sau:
Chương 1
QUY ĐỊNH VIỆC GIẢM LÃI, XOÁ NỢ, HOÃN NỢ ĐỐI VỚI NHỮNG VIỆC VAY MƯỢN TRƯỚC NGÀY BAN HÀNH SẮC LỆNH NÀY
Điều 2: Lợi suất các mớn nợ vay trước ngày ban hành sắc lệnh này phải hạ thấp xuống dưới mức tối đa ấn định là:
- Vay tiền: 18% tức một phân rưỡi một tháng;
- Vay thóc hay sản vật: 20% tức 10% một vụ.
Điều 3: Nay xoá bỏ không phải trả những:
1- Nợ cũ mà đến ngày ban hành sắc lệnh này đã trả lãi bằng gấp đôi số vốn. Nếu đã trả lại được bằng số vốn rồi thì chỉ còn phải trả vốn.
2- Nợ dân nghèo vay từ trước ngày 19 tháng 8 năm 1945 mà xét ra đến nay không thể trả được nữa.
3- Nợ cũ vay của những người đã bị kết án làm phương hại đến nền độc lập quốc gia.
4- Người vệ quốc quân, quân đội địa phương, dân quân du kích, cán bộ chính quyền hay đoàn thể, nghèo, đã vay nợ mà nay đã từ trần hoặc bị địch giết trong khi thi hành nhiệm vụ, thì dù nợ vay lúc nào cũng được xoá.
Điều 4: Các món nợ sau đây được hoãn và trong thời gian được hoãn đó không phải trả lãi:
1- Nợ cũ của những người hiện nay ở trong các đô thị lớn bị tạm chiếm.
2- Nợ cũ của các chiến sĩ nghèo đang tòng ngũ đã vay từ trước ngày ban hành sắc lệnh này: hoãn suốt trong thời gian tòng ngũ.
3- Nợ cũ của những người bị thiệt hại vì thiên tai hay tai nạn chiến hành (vay trước khi bị thiên tai hay tai nạn) mà nay nghèo túng xét ra không thể trả được: hoãn từ một đến ba năm.
Chương 2
CẤM ĐOÁN CÁC THỦ ĐOẠN BÓC LỘT TRONG VIỆC VAY MƯỢN Ở THÔN QUÊ
Điều 5: Cấm việc cho vay lãi chồng thành gốc.
Điều 6: Người nào dùng các thủ đoạn man trá hoặc đầu cơ, bóc lột để cho vay, sẽ bị trừng phạt:
- Lần đầu tiên phạt tiền bằng từ 1 đến gấp 3 lần số tiền gốc đã cho vay;
- Nếu tái phạm bị phạt tù từ 1 tháng đến 1 năm, hoặc phạt cả tù lẵn tiền.
Chương 3
CƠ QUAN THI HÀNH
Điều 7: Các việc tranh tụng về nợ hay truy tố những người phạm vào các điều trong sắc lệnh này sẽ do toà án xử theo thủ tục thường; duy đối với các món nợ cũ, vay trước ngày ban hành sắc lệnh này thì giao cho Ban giảm tô giảm tức xã, Hội đồng giảm tô giảm tức tỉnh hoà giải hay quyết định về các việc giảm lãi, xoá nợ, hoãn nợ, theo các điều ấn định trên.
Điều 8: Liên Bộ Nội vụ - Tư pháp - Canh nông sẽ ấn định chi tiết thi hành sắc lệnh này.
Điều 9: Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Canh nông chiểu Sắc lệnh thi hành.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
- 1 Sắc lệnh số 78/SL về việc ấn định giảm địa tô 25% mức địa tô trước 19-08-1945 do Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 2 Sắc lệnh số 26/SL về việc thành lập các Ban giảm tô xã do Chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 3 Sắc lệnh số 149/SL về việc quy định về chính sách ruộng đất do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 4 Quy tắc số 739-TTg về việc tổ chức hợp tác xã tín dụng nông thôn do Thủ tướng Chính phủ ban hành