Thông tư số 06/2015/TT-BYT do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định chi tiết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Y tế. Văn bản này thiết lập một hệ thống quy tắc chặt chẽ từ khâu soạn thảo, in ấn, sao chụp cho đến việc lưu trữ, truyền đưa và tiêu hủy các tài liệu, vật mang bí mật nhà nước nhằm bảo đảm an ninh thông tin trong toàn ngành.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân hoạt động trong ngành Y tế. Phạm vi điều chỉnh bao quát toàn bộ quy trình quản lý tài liệu mật bao gồm: soạn thảo, in, sao, chụp, gửi, nhận, thu hồi, lưu giữ, thống kê, sử dụng, bảo quản và tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực y tế.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác bảo mật
- Thu thập, cung cấp, làm lộ, làm mất, chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy trái phép các tài liệu, vật mang bí mật nhà nước thuộc ngành Y tế.
- Trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu mật cho các cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân khi chưa được người có thẩm quyền phê duyệt.
- Sử dụng máy tính có kết nối mạng Internet để soạn thảo, đánh máy, lưu giữ tài liệu mật; cắm các thiết bị lưu trữ bí mật nhà nước vào máy tính kết nối Internet.
- Sử dụng các thiết bị thu phát tín hiệu, điện thoại di động, micro vô tuyến, thiết bị ghi âm trong các cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
- Trao đổi thông tin mật qua các phương tiện thông tin liên lạc thông thường như điện thoại di động, máy bộ đàm, máy fax, Internet dưới bất kỳ loại hình dịch vụ nào khi chưa được phê duyệt.
- Đăng tải, cung cấp thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước trên báo chí, ấn phẩm công khai, cổng thông tin điện tử, website, blog, trang mạng xã hội, diễn đàn hoặc các nền tảng trực tuyến khác.
Tiêu chuẩn đối với cán bộ làm công tác bảo mật
- Cán bộ làm công tác văn thư, bảo mật chuyên trách tại các đơn vị thuộc Bộ phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, ý thức kỷ luật cao, tinh thần cảnh giác và phải cam kết bảo vệ bí mật nhà nước bằng văn bản.
- Các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế có trách nhiệm phân công cán bộ làm công tác tổng hợp văn thư đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn và yêu cầu ký bản cam kết bảo mật bằng văn bản.
- Mọi cá nhân được giao tiếp xúc với bí mật nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ bảo mật theo quy định.
Quy trình soạn thảo, in, sao và chụp tài liệu mật
- Việc soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu mật phải được thực hiện tại địa điểm an toàn do thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý và không được mang ra ngoài. Thiết bị sử dụng phải được kiểm tra bảo đảm an toàn, bảo mật.
- Người soạn thảo có trách nhiệm đề xuất mức độ mật (Tuyệt mật, Tối mật, Mật) dựa trên danh mục bí mật nhà nước ngành Y tế. Người ký duyệt văn bản chịu trách nhiệm quyết định độ mật, số lượng phát hành, phạm vi lưu hành, nơi nhận và các thông tin liên quan.
- Tài liệu mật dạng băng, đĩa, phim hoặc bản ghi phải được niêm phong và đóng dấu độ mật. Nghiêm cấm việc in, đánh máy vượt quá số lượng quy định; bản thảo phải được hủy ngay sau khi hoàn thành việc sao chụp.
- Khi lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn bản mật, cơ quan chủ trì phải xác định rõ đối tượng, phạm vi và đóng dấu độ mật cần thiết trước khi gửi. Cơ quan nhận dự thảo phải quản lý theo đúng độ mật ghi trên tài liệu.
Quy định về gửi và nhận tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
- Gửi tài liệu mật: Tài liệu gửi đi phải được đăng ký vào sổ "Tài liệu mật đi", kèm theo phiếu gửi đặt trong phong bì dán kín. Phong bì phải làm bằng giấy dai, khó bóc, không nhìn thấu. Ngoài bì không được viết chữ "Mật", "Tối mật", "Tuyệt mật" mà phải đóng dấu ký hiệu chữ tương ứng: chữ "C" cho độ Mật, chữ "B" cho độ Tối mật. Riêng độ "Tuyệt mật" phải gửi bằng hai lớp phong bì, bì trong đóng dấu "Tuyệt mật" (hoặc dấu chỉ đích danh người bóc), bì ngoài đóng dấu ký hiệu chữ "A".
- Nhận tài liệu mật: Văn thư phải đăng ký vào sổ "Tài liệu mật đến". Đối với tài liệu gửi đích danh, văn thư chuyển nguyên bì cho người nhận. Trường hợp phát hiện tài liệu mật bị bóc, mở, tráo đổi hoặc hư hỏng, người nhận phải báo cáo ngay cho thủ trưởng đơn vị để xử lý. Nơi nhận có trách nhiệm hoàn trả phiếu gửi cho nơi gửi để đối chiếu, kiểm tra.
- Thu hồi tài liệu mật: Văn thư có trách nhiệm theo dõi, thu hồi hoặc trả lại tài liệu mật có đóng dấu thu hồi đúng thời hạn quy định, thực hiện đối chiếu và xóa sổ để tránh thất lạc.
Lưu trữ và bảo vệ bí mật nhà nước trong thông tin liên lạc
- Tài liệu mật phải được bảo quản nghiêm ngặt, lưu trữ riêng biệt tại những nơi có đầy đủ phương tiện bảo vệ an toàn do thủ trưởng đơn vị quy định.
- Nghiêm cấm truyền đạt thông tin mật qua điện thoại, fax, Internet thông thường. Trong trường hợp cần thiết, thông tin mật chuyển đi bằng phương tiện viễn thông, máy tính phải được mã hóa theo quy định của pháp luật về cơ yếu.
- Cục Công nghệ thông tin thuộc Bộ Y tế đóng vai trò là đầu mối hướng dẫn các đơn vị trong ngành thực hiện các biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước trên môi trường mạng và thiết bị trực tuyến.
Chế độ báo cáo và thống kê công tác bảo mật
- Báo cáo đột xuất: Thực hiện ngay khi có các vụ việc đột xuất liên quan đến an toàn bảo mật xảy ra, nêu rõ nguyên nhân, hậu quả và biện pháp xử lý.
- Báo cáo định kỳ hằng năm: Đánh giá toàn diện, ngắn gọn và chính xác về tình hình thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước tại đơn vị.
- Văn phòng Bộ Y tế chịu trách nhiệm tổng hợp các báo cáo từ các đơn vị để báo cáo Văn phòng Chính phủ và Bộ Công an theo quy định.
Sử dụng, bảo quản và cung cấp tài liệu mật cho tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Tài liệu mật chỉ được phổ biến cho những người có trách nhiệm liên quan trực tiếp. Việc mang tài liệu mật ra khỏi nơi lưu giữ hoặc mang đi công tác phải được sự đồng ý của thủ trưởng đơn vị và phải bảo đảm an toàn tuyệt đối.
- Thẩm quyền phê duyệt cung cấp tài liệu mật cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được quy định chặt chẽ: độ "Tuyệt mật" do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; độ "Tối mật" do Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt; độ "Mật" do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế phê duyệt.
- Cán bộ y tế khi tiếp xúc với người nước ngoài tuyệt đối không được tiết lộ bí mật nhà nước và không được thực hiện các công việc bảo mật khi có mặt người không có trách nhiệm.
Phổ biến, giải mật và tiêu hủy tài liệu mật
- Nguyên tắc phổ biến: Tài liệu "Tuyệt mật" chỉ người có thẩm quyền hoặc người được giao nhiệm vụ trực tiếp được biết; tài liệu "Tối mật" phổ biến đến đơn vị, cá nhân có trách nhiệm giải quyết; tài liệu "Mật" phổ biến đến các đối tượng liên quan thi hành.
- Giải mật: Việc xóa bỏ độ mật được thực hiện khi nội dung tài liệu nếu tiết lộ không còn gây nguy hại cho Nhà nước, tuân thủ trình tự, thủ tục của Chính phủ, Bộ Công an và Luật Lưu trữ.
- Tiêu hủy tài liệu mật: Thực hiện theo quy định của Luật Lưu trữ sau khi đã giải mật. Trong trường hợp khẩn cấp nếu không tiêu hủy ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh quốc phòng, người đang quản lý được quyền tự tiêu hủy và phải báo cáo bằng văn bản ngay sau đó cho cấp có thẩm quyền.
Hiệu lực thi hành và Trách nhiệm thực hiện
Thông tư số 06/2015/TT-BYT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2015, thay thế hoàn toàn Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 14/2005/QĐ-BYT ngày 12 tháng 4 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện. Tổ công tác bảo đảm bí mật nhà nước ngành Y tế và Văn phòng Bộ Y tế có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra và tổng hợp tình hình thực hiện thông tư này trong toàn ngành.
| BỘ Y TẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 06/2015/TT-BYT | Hà Nội, ngày 31 tháng 03 năm 2015 |
Căn cứ Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước ngày 28 tháng 12 năm 2000;
Căn cứ Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Theo đề nghị của Chánh Văn phòng Bộ,
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư quy định công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Y tế.
Thông tư này quy định về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Y tế từ khâu soạn thảo, in, sao, chụp, gửi, nhận, thu hồi, lưu giữ, thống kê, sử dụng, bảo quản, tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trong ngành Y tế.
Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân công tác trong ngành Y tế.
Điều 3. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Thu thập, cung cấp, làm lộ, làm mất, chiếm đoạt, mua bán tiêu hủy trái phép tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trong ngành Y tế.
2. Trao đổi, cung cấp tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước cho cơ quan, đơn vị, cá nhân khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3. Sử dụng máy tính có kết nối mạng Internet để soạn thảo, đánh máy, lưu giữ tài liệu mật; cắm thiết bị lưu giữ bí mật nhà nước vào máy tính có kết nối mạng Internet.
4. Sử dụng Micro vô tuyến, điện thoại di động, thiết bị có tính năng ghi âm, thu phát tín hiệu trong cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép.
5. Trao đổi thông tin có nội dung bí mật nhà nước qua máy bộ đàm, điện thoại di động, điện thoại kéo dài, máy fax, Internet dưới bất kỳ loại hình dịch vụ nào khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép.
6. Cung cấp tin, tài liệu và đưa thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước trên báo chí, ấn phẩm xuất bản công khai, trên cổng thông tin điện tử, website, blog, trang mạng xã hội, diễn đàn và các hình thức tương tự.
Điều 4. Tiêu chuẩn cán bộ làm công tác liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước
1. Các đơn vị thuộc Bộ chịu trách nhiệm bố trí cán bộ làm công tác văn thư, bảo mật chuyên trách, bảo đảm có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và có phẩm chất tốt, có ý thức kỷ luật, ý thức cảnh giác giữ gìn bí mật nhà nước; đồng thời phải cam kết bảo vệ bí mật nhà nước bằng văn bản.
2. Các đơn vị trực thuộc Bộ căn cứ quy định về tiêu chuẩn cán bộ làm công tác liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước để phân công cán bộ làm công tác tổng hợp văn thư của đơn vị; Cán bộ làm công tác tổng hợp văn thư của đơn vị phải làm bản cam kết bảo vệ bí mật nhà nước bằng văn bản.
3. Những người được giao nhiệm vụ tiếp xúc với bí mật nhà nước dưới mọi hình thức phải thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và được cơ quan đào tạo, tập huấn các nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
Khi soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trong ngành Y tế phải thực hiện những quy định sau:
1. Tổ chức thực hiện việc soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước phải tiến hành trong cơ quan, đơn vị, tại nơi an toàn do thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý tài liệu mật quy định, không mang ra ngoài cơ quan, đơn vị. Khi có yêu cầu, phải soạn thảo trên hệ thống thiết bị đã qua kiểm tra và đủ điều kiện về an toàn, bảo mật. Các đơn vị trong ngành Y tế phải cử cán bộ làm công tác bảo vệ bí mật nhằm theo dõi, quản lý các tin tức, tài liệu mật do cơ quan, đơn vị quản lý;
2. Khi soạn thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước, căn cứ nội dung văn bản cá nhân soạn thảo phải đề xuất với thủ trưởng trực tiếp về mức độ mật theo đúng danh mục bí mật nhà nước trong ngành Y tế; người duyệt ký văn bản chịu trách nhiệm việc xác định mức độ mật, số lượng bản phát hành, phạm vi lưu hành nơi nhận, tên người đánh máy, in, soát, sao, chụp tài liệu;
Với tài liệu mật sao, chụp ở dạng băng, đĩa, phim hoặc bản ghi phải niêm phong và đóng dấu độ mật. Tuyệt đối không đánh máy hoặc in quá số lượng quy định. Sau khi sao, chụp xong phải kiểm tra và hủy bản thảo nếu có. Đối với vật mang bí mật nhà nước phải được niêm phong, có văn bản ghi rõ tên của vật lưu kèm theo và đóng dấu mức độ mật vào văn bản này;
3. Khi tổ chức lấy ý kiến tham gia xây dựng dự thảo văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo phải xác định cụ thể phạm vi, đối tượng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, cần xin ý kiến hoặc tham khảo ý kiến, phải đóng dấu xác định mức độ “mật” cần thiết vào dự thảo trước khi gửi xin ý kiến. Cơ quan, đơn vị, cá nhân nhận được dự thảo phải thực hiện việc quản lý, sử dụng theo đúng độ mật đã ghi trên dự thảo.
Điều 6. Gửi tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
1. Vào sổ: tài liệu mật trước khi gửi đi phải vào sổ "Tài liệu mật đi". Phải ghi đầy đủ các thông tin sau đây: số thứ tự, ngày, tháng, năm, nơi nhận, trích yếu nội dung, độ mật, độ khẩn, người nhận (ký tên, ghi rõ họ tên).
2. Lập phiếu gửi: tài liệu mật gửi đi phải kèm theo phiếu gửi và phải bỏ chung vào bì cùng với tài liệu. Phiếu gửi phải ghi rõ nơi gửi, số phiếu, nơi nhận, số ký hiệu từng loại tài liệu gửi đi, đóng dấu độ mật, khẩn của tài liệu vào góc phải phía trên của tờ phiếu. Người mở phong bì và người nhận tài liệu mật phải ký vào phiếu chuyển để người gửi kiểm tra việc chuyển giao và truy xét kịp thời tài liệu bị thất lạc.
3. Làm bì: tài liệu mật gửi đi không được gửi chung trong một phong bì với tài liệu thường. Giấy làm bì phải là loại giấy dai, khó bóc, khó thấm nước, không nhìn thấu qua được. Gấp bì theo mối chéo, hồ dán phải dính, khó bóc.
4. Dấu ký hiệu chỉ mức độ tài liệu mật, tối mật, tuyệt mật đóng ngoài bì.
Không được viết chữ hoặc đóng dấu Mật, Tối mật, Tuyệt mật ở ngoài bì.
a) Tài liệu có độ “Mật” đóng dấu chữ "C" (con dấu chữ C in hoa nét đậm, nằm trong đường viền tròn, đường kính 1,5 cm).
b) Tài liệu có độ "Tối mật" đóng dấu chữ "B" (con dấu chữ B in hoa, nét đậm, nằm trong đường viền tròn, đường kính 1,5 cm).
c) Tài liệu có độ “Tuyệt mật” gửi bằng 02 phong bì:
- Bì trong: Do đơn vị soạn thảo văn bản làm, dán kín và ghi rõ số, ký hiệu của tài liệu, tên người nhận, đóng dấu "Tuyệt mật", nếu là tài liệu, vật gửi đích danh người có trách nhiệm giải quyết thì đóng dấu "Chỉ người có tên mới được bóc bì";
- Bì ngoài: Do bộ phận văn thư, lưu trữ của cơ quan ghi như tài liệu thường và đóng dấu ký hiệu chữ “A” (con dấu chữ A in hoa, nét đậm, nằm trong đường viền tròn, đường kính 1,5 cm).
Điều 7. Nhận tài liệu, vật mang bí mật nhà nước đến
1. Khi nhận tài liệu mật, văn thư phải vào sổ "Tài liệu mật đến" để theo dõi và chuyển đến người có trách nhiệm giải quyết.
2. Nếu tài liệu mật đến mà bì trong có dấu "chỉ người có tên mới được bóc bì", văn thư vào sổ theo số ký hiệu ghi ngoài bì và chuyển ngay đến người có tên trên bì. Nếu người có tên ghi trên bì đi vắng thì chuyển đến người có trách nhiệm giải quyết, văn thư không được bóc bì.
3. Trường hợp tài liệu mật được gửi đến mà không thực hiện đúng thủ tục bảo mật thì chuyển đến người có trách nhiệm giải quyết, đồng thời báo lại nơi gửi để rút kinh nghiệm. Nếu phát hiện tài liệu mật gửi đến có dấu hiệu bị bóc, mở bì hoặc tài liệu bị trao đổi, mất, hư hỏng, thì người nhận phải báo ngay với thủ trưởng cơ quan, đơn vị để có biện pháp xử lý kịp thời.
4. Khi nhận tài liệu mật, nơi nhận phải hoàn ngay phiếu gửi cho nơi đã gửi tài liệu. Nơi gửi và nơi nhận tài liệu mật phải tổ chức kiểm tra, đối chiếu thường xuyên nhằm phát hiện những sai sót, mất mát để kịp thời xử lý.
Điều 8. Thu hồi tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
Văn thư phải theo dõi, thu hồi hoặc trả lại nơi gửi đúng kỳ hạn tài liệu, vật mang bí mật nhà nước có đóng dấu thu hồi, khi nhận cũng như khi trả đều phải kiểm tra, đối chiếu và xóa sổ để bảo đảm tài liệu không bị thất lạc.
Điều 9. Lưu trữ tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
Tài liệu "tuyệt mật", "tối mật", "mật" phải được bảo quản, lưu trữ nghiêm ngặt, tổ chức lưu trữ riêng tại nơi có đủ điều kiện, phương tiện bảo quản, bảo đảm an toàn. Nơi cất giữ các loại tài liệu mật do thủ trưởng cơ quan, đơn vị quy định.
Điều 10. Bảo vệ bí mật nhà nước trong thông tin liên lạc
1. Không được truyền thông tin nội dung tài liệu mật qua máy điện thoại, máy phát sóng, điện báo và máy fax, Internet; trong trường hợp cần thiết được trao đổi bằng điện thoại, fax hoặc bằng phương tiện kỹ thuật khác khi đã được áp dụng các biện pháp bảo mật.
2. Thông tin bí mật nhà nước chuyển đi bằng phương tiện viễn thông và máy tính thì phải được mã hóa theo quy định của pháp luật về cơ yếu.
3. Cục Công nghệ thông tin, Bộ Y tế là đơn vị đầu mối hướng dẫn các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ, Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bảo đảm bảo vệ bí mật nhà nước qua mạng Internet, máy tính và thiết bị trực tuyến khác.
Điều 11. Chế độ báo cáo, thống kê về công tác bảo mật
Cơ quan Bộ Y tế và các đơn vị trong ngành Y tế phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê về công tác bảo mật như sau:
1. Báo cáo đột xuất: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải báo cáo kịp thời về Bộ Y tế về những vụ việc đột xuất xảy ra. Trong báo cáo cần nêu rõ lý do, nguyên nhân, biện pháp đã tiến hành xử lý, kết quả và ý kiến đề xuất;
2. Báo cáo định kỳ công tác hằng năm: Là báo cáo toàn diện về công tác bảo vệ bí mật hằng năm của cơ quan, đơn vị; báo cáo cần ngắn gọn, chính xác, phản ánh đầy đủ tình hình công tác bảo vệ bí mật trong năm;
3. Báo cáo của đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế gửi về Bộ Y tế (Văn phòng Bộ) để tổng hợp báo Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an theo quy định của pháp luật.
Điều 12. Sử dụng, bảo quản tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
1. Văn phòng Bộ, Phòng Tổ chức cán bộ của Sở Y tế và các đơn vị trực thuộc Bộ có trách nhiệm lập hồ sơ về tài liệu loại "tuyệt mật", "tối mật", "mật" gửi về bộ phận lưu trữ theo quy định của pháp luật.
2. Tài liệu mật chỉ được phổ biến trong phạm vi những người có trách nhiệm được biết. Tuyệt đối không được cho người không có trách nhiệm biết khi chưa được thủ trưởng đơn vị cho phép.
3. Việc trao đổi tài liệu mật hoặc cung cấp số liệu, tin tức mật trên phương tiện thông tin đại chúng phải được Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc thủ trưởng đơn vị đó xét duyệt và chịu trách nhiệm.
4. Không được mang tài liệu mật ra khỏi nơi lưu giữ; trường hợp đặc biệt nếu được sự đồng ý của người có thẩm quyền có thể mượn và chịu trách nhiệm bảo quản tài liệu đã mượn và ký nhận vào sổ khai thác tài liệu mật.
5. Trường hợp cán bộ phải mang tài liệu mật đi công tác trong nước, công tác nước ngoài, đi họp hay về nhà riêng phải được sự đồng ý của thủ trưởng cơ quan, đơn vị và phải bảo đảm tuyệt đối an toàn trên đường đi, nơi ở; phải bảo đảm cất giữ tài liệu an toàn, không được làm hư hỏng hoặc mất mát tài liệu. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ phải bàn giao tài liệu mật cho bộ phận quản lý.
6. Đơn vị được giao nhiệm vụ lưu trữ tài liệu mật có trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo quản và cung cấp thông tin một cách kịp thời, trung thực và đúng quy định.
1. Khi cần phải cung cấp các tài liệu, vật mang bí mật nhà nước cho các tổ chức quốc tế, nước ngoài hoặc mang ra nước ngoài phải tuân thủ các quy định sau đây:
a) Loại "Tuyệt mật" phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
b) Loại "Tối mật" phải được Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt, riêng lĩnh vực quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt;
c) Loại "Mật" phải được Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế phê duyệt.
Đơn vị và người thực hiện chỉ được phép cung cấp đúng các nội dung đã được phê duyệt và yêu cầu bên nhận tin sử dụng đúng mục đích thỏa thuận và không được tiết lộ cho bên thứ 3.
2. Khi mang tài liệu ra nước ngoài, phải có văn bản trình rõ nội dung bí mật mang ra nước ngoài như thế nào, xin ý kiến của cơ quan cấp trên theo hệ thống dọc và những nơi có liên quan để xem xét quyết định.
3. Cán bộ nhân viên ngành Y tế khi tiếp xúc với người nước ngoài không được phép tiết lộ bí mật nhà nước nói chung và bí mật nhà nước trong ngành Y tế nói riêng.
4. Không được làm công việc bí mật trong lúc có mặt người không có trách nhiệm liên quan đến công việc đó. Khi mất tài liệu mật phải báo cáo ngay với thủ trưởng đơn vị đồng thời báo cáo cơ quan công an để xử lý kịp thời.
Điều 14. Phổ biến, nghiên cứu, sử dụng tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
1. Phổ biến, nghiên cứu, sử dụng tài liệu, vật mang bí mật nhà nước phải thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
a) Độ “Tuyệt mật” chỉ có cá nhân người có thẩm quyền hoặc người được giao nhiệm vụ giải quyết biết;
b) Độ “Tối mật” chỉ phổ biến đến những người, những đơn vị có trách nhiệm giải quyết;
c) Độ “Mật” được phổ biến đến những người, những đơn vị có liên quan đến việc giải quyết, thi hành văn bản;
d) Việc phổ biến, nghiên cứu, sử dụng tài liệu, vật mang bí mật nhà nước phải được thực hiện ở nơi bảo đảm bí mật, an toàn.
2. Đối với các cuộc họp, hội nghị của Bộ có nội dung bí mật, chỉ được ghi chép, ghi âm, ghi hình khi được phép của Bộ trưởng hoặc người có thẩm quyền, Chủ tọa Hội nghị. Các băng ghi âm, ghi hình phải quản lý, bảo vệ như tài liệu gốc.
Điều 15. Giải mật tài liệu mật
1. Giải mật tài liệu mật là xóa bỏ độ mật đã được xác định của tài liệu mật. Việc giải mật chỉ được xem xét khi nội dung của tài liệu nếu bị tiết lộ không còn gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự thủ tục giải mật tài liệu mật thực hiện theo quy định của Chính phủ và Bộ Công an.
3. Đối với tài liệu lưu trữ lịch sử có nội dung bí mật nhà nước được giải mật theo quy định của Luật lưu trữ và văn bản hướng dẫn thi hành.
4. Đối với tài liệu lưu trữ có nội dung bí mật nhà nước khi nộp vào Kho lưu trữ Trung ương Đảng và tài liệu của Kho lưu trữ Trung ương Đảng, việc giải mật thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Điều 16. Tiêu hủy tài liệu mật
1. Việc tiêu hủy tài liệu mật sau khi giải mật được thực hiện theo quy định của Luật lưu trữ và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2. Trong trường hợp đặc biệt không có điều kiện tổ chức tiêu hủy tài liệu mật theo quy định pháp luật hiện hành, nếu tài liệu mật không được tiêu hủy ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc các lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu mật đó được quyền tự tiêu hủy nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản cho cấp có thẩm quyền (người đứng đầu cơ quan quản lý tài liệu mật, cơ quan công an cùng cấp). Nếu việc tự tiêu hủy tài liệu mật không có lý do chính đáng thì người tự tiêu hủy phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2015.
2. Quyết định số 14/2005/QĐ-BYT ngày 12 tháng 4 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Y tế hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.
Điều 18. Trách nhiệm thực hiện
1. Việc thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Y tế là trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và cá nhân trong và ngoài ngành. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Y tế tổ chức thực hiện Thông tư này.
2. Tổ công tác bảo đảm bí mật nhà nước của ngành Y tế, Văn phòng Bộ Y tế có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp tình hình thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn ngành Y tế, báo cáo Bộ trưởng theo quy định.
3. Trong quá trình tổ chức thực hiện khi có vướng mắc, đề nghị cơ quan, đơn vị và cá nhân phản ánh về Bộ Y tế (Văn phòng Bộ) để xem xét, giải quyết./.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1 Quyết định 14/2005/QĐ-BYT về Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 2 Thông tư 110/2013/TT-BTC quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thuộc công tác bảo vệ bí mật nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3 Thông tư 09/2014/TT-BVHTTDL quy định công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- 4 Thông tư 161/2014/TT-BTC quy định công tác bảo vệ bí mật nhà nước của ngành Tài chính do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 5 Công văn 3192/BHXH-VP năm 2016 về chấn chỉnh công tác bảo vệ bí mật nhà nước do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành
- 1 Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2000
- 2 Nghị định 33/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước
- 3 Luật lưu trữ 2011
- 4 Nghị định 63/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế
- 5 Thông tư 110/2013/TT-BTC quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thuộc công tác bảo vệ bí mật nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 6 Thông tư 09/2014/TT-BVHTTDL quy định công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- 7 Thông tư 161/2014/TT-BTC quy định công tác bảo vệ bí mật nhà nước của ngành Tài chính do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 8 Công văn 3192/BHXH-VP năm 2016 về chấn chỉnh công tác bảo vệ bí mật nhà nước do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành