Thông tư số 3-LN/KL được Bộ Lâm nghiệp ban hành ngày 12 tháng 01 năm 1988 nhằm hướng dẫn chi tiết công tác kiểm soát lâm sản, tăng cường quản lý bảo vệ rừng và ngăn chặn các hành vi khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với mọi tổ chức quốc doanh, tập thể, hộ gia đình và cá nhân có hoạt động khai thác, chế biến, vận chuyển, lưu thông, mua bán và sử dụng lâm sản trên lãnh thổ Việt Nam. Quy định này nhằm thiết lập trật tự trong lưu thông lâm sản, bảo vệ tài nguyên rừng quốc gia.
Quy định về các loại lâm sản chịu sự kiểm soát (Điều 1)
- Lâm sản thuộc đối tượng kiểm soát bao gồm tất cả các loại gỗ tròn, gỗ xẻ, củi, than, các loại lâm sản ngoài gỗ (như tre, nứa, song, mây, dầu rái, nhựa thông, các loại dược liệu tự nhiên) và các loài động vật hoang dã, sản phẩm từ động vật hoang dã.
- Mọi loại lâm sản khi lưu thông trên thị trường hoặc vận chuyển ra khỏi địa bàn khai thác đều phải có nguồn gốc hợp pháp và đầy đủ giấy tờ chứng minh theo quy định của pháp luật.
Thủ tục và giấy tờ vận chuyển lâm sản hợp pháp (Điều 2)
- Lâm sản khi vận chuyển phải có Giấy phép vận chuyển lâm sản do cơ quan Kiểm lâm hoặc cơ quan lâm nghiệp có thẩm quyền cấp.
- Đối với gỗ tròn, gỗ xẻ thuộc diện quản lý đặc biệt, phải có dấu búa kiểm lâm hợp lệ được đóng trên sản phẩm.
- Các chứng từ kèm theo bao gồm hóa đơn bán hàng, phiếu xuất kho của các doanh nghiệp nhà nước hoặc hợp tác xã được phép khai thác và kinh doanh lâm sản hợp pháp.
Lực lượng và địa điểm kiểm soát lâm sản (Điều 3)
- Lực lượng Kiểm lâm là lực lượng chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng khác như Công an, Quản lý thị trường thực hiện việc kiểm soát lâm sản tại các trạm kiểm lâm cố định hoặc thông qua các tổ tuần tra kiểm soát lưu động trên các tuyến đường giao thông bộ, đường thủy.
- Việc lập các trạm kiểm soát lâm sản phải tuân thủ đúng quy định của Bộ Lâm nghiệp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tránh việc lập trạm tùy tiện gây cản trở lưu thông hàng hóa hợp pháp.
Quy trình và nguyên tắc kiểm tra, kiểm soát (Điều 4)
- Khi tiến hành kiểm tra phương tiện vận chuyển lâm sản, cán bộ kiểm lâm phải xuất trình thẻ kiểm lâm, thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, thái độ lịch sự, nghiêm túc.
- Việc kiểm tra phải nhanh chóng, chính xác, hạn chế tối đa việc gây ách tắc giao thông hoặc làm hư hỏng lâm sản của chủ hàng.
- Mọi trường hợp phát hiện vi phạm về thủ tục giấy tờ hoặc nguồn gốc lâm sản đều phải được lập biên bản, tạm giữ tang vật, phương tiện và xử lý nghiêm theo thẩm quyền hoặc chuyển giao cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 3-LN/KL-1988 có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây của Bộ Lâm nghiệp trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các cơ quan Kiểm lâm, Sở Lâm nghiệp các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức triển khai và hướng dẫn thực hiện nghiêm túc các nội dung của Thông tư này.
| BỘ LÂM NGHIỆP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3-LN/KL | Hà Nội, ngày 23 tháng 2 năm 1988 |
I. VIỆC LẬP TRẠM KIỂM SOÁT LÂM SẢN
- Ở những tỉnh có rừng (20 tỉnh), nơi có đầu mối giao thông thuỷ, bộ vận chuyển lâm sản quan trọng, cần lập trạm kiểm soát lâm sản, Sở Lâm nghiệp báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh có văn bản đề nghị để Bộ ký quyết định lập trạm kiểm soát lâm sản.
Trên các trục đường giao thông thuỷ, bộ, các địa phương không được tổ chức nhiều trạm kiểm soát lâm sản, gây ảnh hưởng đến lưu thông hàng hoá.
- Ở những tỉnh có rừng và thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Sở Lâm nghiệp báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố ký quyết định lập đội kiểm soát lâm sản lưu động để kiểm tra, xoá bỏ các tụ điểm khai thác, mua bán, tàng trữ lâm sản trái phép.
- Đối với việc lập trạm kiểm soát cửa rừng thì các đơn vị được giao rừng quản lý, kinh doanh (liên hiệp, lâm trường, hợp tác xã, rừng quốc gia, rừng cấm...) cần thống nhất với cơ quan lâm nghiệp tỉnh để báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh ký quyết định thành lập trạm kiểm soát cửa rừng. Lực lượng bảo vệ rừng của các đơn vị quản lý rừng là nòng cốt tại trạm cửa rừng.
II. VIỆC TỔ CHỨC KIỂM SOÁT LÂM SẢN
Phải kiểm tra chặt chẽ việc khai thác gỗ và phương tiện vận tải ra vào rừng. Khai thác gỗ ngoài kế hoạch, gỗ gia dụng phải có giấy phép của cơ quan lâm nghiệp có thẩm quyền. Khai thác gỗ của các liên hiệp, lâm trường, các đơn vị liên kết kinh tế phải có thiết kế khai thác có phê duyệt của cấp có thẩm quyền.
Gỗ khai thác ra phải thực hiện việc đóng dấu búa kiểm lâm vào gỗ.
Các xe vào rừng nhận gỗ phải có giấy tờ và chỉ được vào đúng nơi quy định (bãi 1, bãi 2) để nhận gỗ.
2. Kiểm soát tại các trạm kiểm soát lâm sản.
- Để việc kiểm soát lâm sản có hiệu quả, đúng thủ tục phải bố trí cán bộ, nhân viên kiểm lâm nhân dân có đạo đức, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn, nắm vững luật lệ về lâm nghiệp. Biên chế của trạm phải đủ để làm 3 ca liên tục. Trong khi làm nhiệm vụ, cán bộ, nhân viên kiểm lâm phải mặc đồng phục, đeo phù hiệu, cấp hiệu và số hiệu kiểm lâm nhân dân.
Tại các trạm kiểm soát lâm sản cần có lực lượng công an, quân cảnh phối hợp, hỗ trợ làm nhiệm vụ.
- Các trạm kiểm soát lâm sản (đường bộ, đường sông) phải có bảng báo hiệu cách trạm 100m. Trên bảng ghi rõ: "Trạm kiểm soát lâm sản cách 100m, Xe chở lâm sản dừng lại kiểm tra!".
Các trạm chỉ được dừng các loại xe con, xe ca chở khách để kiểm tra nếu phát hiện có chở lâm sản trái phép.
- Trong khi làm nhiệm vụ, các trạm kiểm soát lâm sản phải chấp hành nghiêm chỉnh các thủ tục quy định về kiểm soát lâm sản như ghi chép sổ sách mẫu biểu đúng quy định, sổ nhật ký kiển soát lâm sản, sổ cái B, sổ nhập xuất lâm sản tịch thu, sổ quỹ, v.v..., lập biên bản, xử lý các vụ vi phạm, giải quyết lâm sản và trích thưởng theo đúng luật lệ hiện hành.
3. Những quy định cơ bản hiện hành về quản lý rừng, quản lý vật tư gỗ và lâm sản, đặc sản rừng.
Trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, quản lý thống nhất vật tư gỗ và lâm sản, đặc sản rừng. Nhà nước và ngành đã có nhiều văn bản quy định cụ thể. Đó là cơ sở pháp lý trong khâu kiểm soát lâm sản.
Đối với khai thác và lưu thông lâm sản, Bộ yêu cầu các đơn vị chấp hành những quy định sau:
- Về khai thác rừng phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Bộ như Chỉ thị số 10-LN/KL ngày 12-4-1985, Thông tư số 14-CNR ngày 17-4-1986 Quyết định số 69-QĐ/KL ngày 17-4-1986 và các văn bản hướng dẫn bổ sung khác.
Đối với xe chuyên dụng chuyển gỗ phải thực hiện theo Quyết định số 68-CT ngày 28-2-1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
- Về quản lý vật tư gỗ và lâm sản phải thực hiện đúng Chỉ thị số 199-CT ngày 12-6-1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Đối với gỗ tận dụng phải thực hiện đúng Chỉ thị số 37-CNR ngày 8-10-1983 của Bộ, đối với gỗ quý hiếm, gỗ nguyên liệu giấy phải thực hiện đúng Chỉ thị số 13-LN/KL và 16-LN/KL của Bộ.
Nghiêm cấm việc lợi dụng gỗ tận dụng, củi để chở gỗ chính phẩm, gỗ quý hiếm và gỗ nguyên liệu giấy.
- Về thủ tục vận chuyển gỗ và lâm sản, đặc sản rừng. Gỗ và lâm sản, đặc sản rừng vận chuyển từ bãi 1 ra bãi 2, và từ bãi 2 đi tổng kho và các nơi tiêu thụ phải có dấu búa kiểm lâm đóng vào gỗ, và phải có đủ thủ tục giấy tờ như quy định tại Thông tư số 9-LN/KL ngày 12-4-1986 của Bộ.
Việc xử lý với các xe chở gỗ trái phép giải quyết như sau:
Đối với xe trong ngành làm nhiệm vụ chở gỗ (kể cả xe hợp đồng chở gỗ cho ngành lâm nghiệp) nếu chở dư khối lượng quá 5% hoặc sai chủng loại thì lập biên bản cho bốc lóng gỗ đó xuống và xử lý theo luật lệ hiện hành. Tuyệt đối không được giữ xe, giữ gỗ hợp pháp.
Đối với lái xe (kể cả ngành lâm nghiệp) dùng phương tiện để tiếp tay cho bọn buôn lậu chở gỗ trái phép thì phải xử phạt nghiêm khắc.
Bộ yêu cầu các Sở Lâm nghiệp, Chi cục kiểm lâm nhân dân chỉ đạo và kiểm tra thực hiện nhiệm vụ tại các trạm kiểm soát lâm sản, ngăn ngừa những tiêu cực trong khâu kiểm soát lâm sản, để việc kiểm soát lâm sản góp phần hỗ trợ cho quản lý, bảo vệ rừng tại gốc, bảo vệ vững chắc vốn rừng hiện có.
| Phan Thanh Xuân (Đã ký) |
- 1 Chỉ thị 44-LN/KL năm 1977 về giao nộp, phân phối những lâm sản phạm pháp sau khi đã xử lý do Bộ lâm nghiệp ban hành
- 2 Chỉ thị 10-LN/KL năm 1986 chấn chỉnh và tăng cường quản lý trong khâu khai thác gỗ do Bộ Lâm nghiệp ban hành
- 3 Thông tư 9-LN/KL-1986 quy định thủ tục vận chuyển gỗ và loại lâm sản, đặc sản rừng do Bộ Lâm nghiệp ban hành
- 4 Thông tư 14-CNR-1986 hướng dẫn các quy định về liên kết kinh tế trong ngành lâm nghiệp do Bộ Lâm nghiệp ban hành
- 5 Quyết định 68-CT năm 1984 về việc quản lý thống nhất ôtô chuyên dùng vận chuyển gỗ và các cơ sở cưa xẻ gỗ dân dụng vào ngành lâm nghiệp do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ban hành
- 6 Thông tư 23-BLN/KL-1984 hướng dẫn xử lý bằng biện pháp hành chính đối với các hành vi đầu cơ, buôn lậu, tàng trữ, vận chuyển, kinh doanh trái phép lâm sản do Bộ lâm nghiệp ban hành
- 1 Chỉ thị 44-LN/KL năm 1977 về giao nộp, phân phối những lâm sản phạm pháp sau khi đã xử lý do Bộ lâm nghiệp ban hành
- 2 Chỉ thị 10-LN/KL năm 1986 chấn chỉnh và tăng cường quản lý trong khâu khai thác gỗ do Bộ Lâm nghiệp ban hành
- 3 Thông tư 9-LN/KL-1986 quy định thủ tục vận chuyển gỗ và loại lâm sản, đặc sản rừng do Bộ Lâm nghiệp ban hành
- 4 Thông tư 14-CNR-1986 hướng dẫn các quy định về liên kết kinh tế trong ngành lâm nghiệp do Bộ Lâm nghiệp ban hành
- 5 Chỉ thị 25-LN/KL năm 1986 tổ chức kiểm soát lâm sản do Bộ Lâm nghiệp ban hành
- 6 Quyết định 68-CT năm 1984 về việc quản lý thống nhất ôtô chuyên dùng vận chuyển gỗ và các cơ sở cưa xẻ gỗ dân dụng vào ngành lâm nghiệp do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ban hành
- 7 Thông tư 23-BLN/KL-1984 hướng dẫn xử lý bằng biện pháp hành chính đối với các hành vi đầu cơ, buôn lậu, tàng trữ, vận chuyển, kinh doanh trái phép lâm sản do Bộ lâm nghiệp ban hành
- 8 Thông tư 32-TCCB-1982 về việc xây dựng và kiện toàn các lực lượng quản lý, bảo vệ rừng do Bộ Lâm nghiệp ban hành