Thông tư 73-TTg được ban hành năm 1962 bởi Thủ tướng Chính phủ, tập trung vào việc quy định các chính sách quản lý đối với đất đai thuộc sở hữu của tư nhân cho thuê, đất vắng chủ và đất bỏ hoang tại khu vực nội thành, nội thị nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước và bảo đảm sử dụng đất đai hiệu quả.
Phạm vi áp dụng của văn bản tập trung vào địa bàn các đô thị, thị xã, thành phố (nội thành, nội thị). Đối tượng điều chỉnh trực tiếp bao gồm các tổ chức, cá nhân sở hữu đất cho thuê, người sử dụng đất, các chủ sở hữu đất vắng mặt và các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương.
- Chính sách quản lý đối với đất của tư nhân cho thuê (Điều 1)
- Nhà nước thực hiện việc thống nhất quản lý toàn bộ diện tích đất do tư nhân đang cho thuê tại các khu vực nội thành, nội thị.
- Các chủ đất tư nhân không còn quyền trực tiếp cho thuê hoặc tự ý định đoạt việc cho thuê đất đối với người khác.
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ trực tiếp đứng ra quản lý, ký hợp đồng cho thuê và thu tiền thuê đất từ người sử dụng đất, nhằm xóa bỏ hình thức bóc lột địa tô đô thị và bảo vệ quyền lợi của người lao động thuê đất.
- Chính sách quản lý đối với đất vắng chủ (Điều 2)
- Đối với các thửa đất mà chủ sở hữu đã vắng mặt khỏi địa phương, không có người đại diện hợp pháp quản lý hoặc không xác định được chủ sở hữu hiện tại, Nhà nước sẽ tiến hành tiếp quản và tạm thời quản lý.
- Việc tạm quản lý này nhằm bảo đảm đất đai không bị lấn chiếm, hủy hoại và được đưa vào sử dụng phục vụ lợi ích công cộng hoặc nhu cầu dân sinh cấp bách.
- Quyền lợi của chủ sở hữu vắng mặt khi trở về sẽ được xem xét và giải quyết theo các quy định pháp luật cụ thể của Nhà nước tại từng thời điểm.
- Chính sách quản lý đối với đất bỏ hoang (Điều 3)
- Các diện tích đất trong khu vực nội thành, nội thị bị bỏ hoang hóa, không được khai thác, sử dụng hiệu quả sẽ bị Nhà nước tiến hành kiểm kê và đưa vào diện quản lý trực tiếp.
- Nhà nước có quyền giao các khu đất bỏ hoang này cho các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu sử dụng để sản xuất, xây dựng hoặc phục vụ các mục đích công ích, tránh lãng phí tài nguyên đất đai của quốc gia.
- Phạm vi và nguyên tắc áp dụng chung (Điều 4)
- Quy định rõ ràng ranh giới địa lý áp dụng là toàn bộ vùng nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã trên cả nước.
- Xác định nguyên tắc phối hợp giữa các ủy ban hành chính địa phương và các cơ quan chuyên môn trong việc rà soát, lập hồ sơ, phân loại từng loại đất (đất cho thuê, đất vắng chủ, đất bỏ hoang) để áp dụng biện pháp quản lý phù hợp.
Thông tư 73-TTg năm 1962 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành, đặt nền móng pháp lý quan trọng cho công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất và quản lý đất đai đô thị tại miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử bấy giờ.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 73-TTg | Hà Nội, ngày 07 tháng 7 năm 1962 |
Để xoá bỏ việc cho thuê đất và để sử dụng hợp tình, hợp lý đất đai ở nội thành, nội thị, hội nghị Thường vụ Hội đồng Chính phủ ngày 2 -5 -1962 đã đề ra chính sách và các nguyên tắc về việc quản lý đất cho thuê của tư nhân, đất vắng chủ và đất bỏ hoang ở nội thành, nội thị.
1. Xoá bỏ chế độ chiếm hữu đất cho thuê ở nội thành, nội thị, đồng thời chấm dứt tình trạng chiếm hữu và sử dụng bất hợp pháp của tư nhân về các loại đất vắng chủ, đất công, đất sa bồi, đất bỏ hoang...
2. Nhà nước trực tiếp quản lý, phân phối và sử dụng các loại đất này, kể cả các bất động sản hiện có trên mặt đất như: cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, ao, hồ nuôi cá, giếng nước và các di tích lịch sử v.v...
3. Người sử dụng đất không phải trả tiền thuê đất cho Nhà nước mà chỉ phải nộp thuế thổ trạch hay thuế nông nghiệp.
1. Đất cho thuê của các thành phần bóc lột như: địa chủ, phú nông, tư sản, chủ có nhà cho thuê thuộc diện cải tạo, không kể diện tích chiếm hữu đất cho thuê nhiều hay ít, đều do Nhà nước trực tiếp quản lý, phân phối và sử dụng. Nhà nước không bồi hoàn cho họ một khoản tiền nào.
2. Đất cho thuê của các tôn giáo, các Hội dù diện tích cho thuê nhiều hay ít, đều do Nhà nước trực tiếp quản lý. Nhà nước không bồi hoàn cho họ một khoản tiền nào.
3. Đất cho thuê của các tư nhân khác, ngoài hai loại đất nói trên, cũng đều do Nhà nước trực tiếp quản lý. Phủ Thủ tướng sẽ có công văn quy định và hướng dẫn những điểm chi tiết về việc này.
4. Đất vắng chủ, mà người quản lý không là cha mẹ đẻ, con đẻ, vợ hoặc chồng hợp pháp của người chủ đi vắng, đều do Nhà nước trực tiếp quản lý, và Nhà nước sẽ xét giải quyết một cách thoả đáng khi người chủ đi vắng trở về.
5. Đất công, đất sa bồi ở ven bờ sông là đất công do Nhà nước quản lý, phân phối và sử dụng. Những người đang sử dụng đất này để sản xuất hoặc để ở sẽ được Nhà nước cấp giấy cho sử dụng. Những người đã chiếm hữu bất hợp pháp các đất này để cho thuê đều phải giao trả lại cơ quan quản lý nhà, đất của Nhà nước .
6. Đất bỏ hoang ở trong các nội thành, nội thị, đều do Nhà nước trực tiếp quản lý để dùng vào các việc công hoặc phân phối cho nhân dân lao động tạm thời sử dụng. Những người được sử dụng đất này phải đóng thuế nông nghiệp hoặc thuế thổ trạch tuỳ theo loại đất.
7. Những người hiện đang sử dụng các loại đất nói ở các điểm trên đây để sản xuất, hoặc xây dựng nhà cửa để ở.. thì được tiếp tục sử dụng.
Các đất này phải trả lại Nhà nước khi người đang được phép sử dụng không dùng đến nữa; không ai được mua bán, chuyển nhượng đất này cho người khác với bất cứ một lý do nào. Nếu trên mặt đất có những bất động sản như: ao, hồ nuôi cá, cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, giếng nước, các di tích lịch sử, thì người hiện đang sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ và tuyệt đối không được tự ý phá huỷ.
8. Đối với các bất động sản hiện có trên mặt đất này như ao, hồ nuôi cá, cây ăn quả lưu niên, cây cổ thụ, giếng nước là của người lao động được sử dụng đất trực tiếp làm ra, thì họ có quyền hưởng thụ hoa lợi. Khi cần thiết cho công cuộc xây dựng các công trình lợi ích công cộng mà phải phá huỷ những bất động sản này, thì Nhà nước sẽ bồi hoàn theo tinh thần Nghị định số 151-TTg ngày 14 tháng 5 năm 1959 của Thủ tướng Chính phủ.
1. Trước khi tiến hành quản lý các loại đất nói trên đây, Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh cần tiến hành đăng ký toàn bộ đất cho thuê của tư nhân, của các tôn giáo, các Hội, đất vắng chủ, đất bỏ hoang... ở nội thành, nội thị để phân loại và để áp dụng chính sách cho thích hợp.
2. Trong khi tiến hành quản lý các loại đất này Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh cần làm thí điểm tốt ở một khu phố rồi rút kinh nghiệm để mở rộng và làm nhanh gọn, làm xong trong năm nay. Trong khi tiến hành cần tranh thủ sự tham gia của các ngành có liên quan như: Toà án, Thuế vụ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Kiến thiết đô thị và các đoàn thể nhân dân, nhất là Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương.
Các Sở, Chi cục và Phòng quản lý nhà, đất ở các địa phương là những cơ quan có trách nhiệm trực tiếp giúp Uỷ ban hành chính các cấp lãnh đạo tốt công tác này.
3. Sau khi tiến hành xong công tác quản lý các loại đất này, (kể cả bất động sản có trên mặt đất) Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh sẽ giao cho cơ quan quản lý nhà, đất ở địa phương quản lý dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính. Nếu địa phương nào chưa có cơ quan quản lý nhà, đất thì Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh sẽ giao nhiệm vụ quản lý này cho Phòng địa bạ hoặc một bộ phận nào trong Uỷ ban.
Uỷ ban hành chính các cấp cần có những biện pháp tích cực chống thất thu về thuế đất và chống việc phá hoại những bất động sản hiện có trên mặt các đất nói ở Thông tư này. Trong khi thi hành Thông tư này, nếu có trường hợp nào mắc mứu thì Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh báo cáo kịp thời về Phủ Thủ tướng.
| Phạm Văn Đồng (Đã ký) |
- 1 Thông tư 201-BXD/TT-1978 về việc quản lý nhà, đất vắng chủ ở các tỉnh phía Nam do Bộ Xây dựng ban hành
- 2 Nghị định 151-TTg năm 1959 quy định tạm thời về trưng dụng ruộng đất do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 3 Thông tư 10-TTg năm 1963 giải thích Thông tư 73-TTg 1962 quy định việc quản lý đất tư nhân cho thuê, đất vắng chủ, đất bỏ hoang ở nội thành, nội thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành