Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 198:1966

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 198:1966 quy định phương pháp thử uốn đối với các loại kim loại. Đây là một trong những tiêu chuẩn kỹ thuật nền tảng trong ngành cơ khí và luyện kim tại Việt Nam, giúp đánh giá khả năng biến dạng dẻo của vật liệu kim loại dưới tác động của lực uốn tĩnh. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết nội dung từ Điều 1 đến Điều 4 của tiêu chuẩn này.

Điều 1: Quy định chung về phương pháp thử uốn

Điều khoản này xác định các nguyên tắc cơ bản khi tiến hành thử nghiệm uốn kim loại:

  • Mục đích thử nghiệm: Phép thử uốn nhằm xác định khả năng biến dạng dẻo của mẫu thử kim loại phẳng hoặc tròn thông qua việc uốn mẫu đến một góc xác định hoặc uốn cho đến khi xuất hiện vết nứt đầu tiên trên bề mặt kéo của mẫu.
  • Điều kiện nhiệt độ: Quá trình thử nghiệm uốn thông thường phải được thực hiện ở nhiệt độ phòng (dao động trong khoảng từ 10 độ C đến 35 độ C). Đối với các trường hợp đặc biệt yêu cầu nhiệt độ thử nghiệm khác, các bên phải tuân thủ theo tiêu chuẩn kỹ thuật riêng của sản phẩm đó.
  • Tốc độ uốn: Lực uốn phải được tác dụng một cách êm, tăng đều đặn và liên tục, tránh hiện tượng va đập mạnh hoặc thay đổi tốc độ đột ngột gây ảnh hưởng đến tính chính xác của kết quả đo.

Điều 2: Yêu cầu về hình dáng và kích thước mẫu thử

Kích thước và hình dáng của mẫu thử đóng vai trò quyết định đến độ chính xác của phép thử uốn:

  • Hình dạng tiết diện: Mẫu thử có thể có tiết diện hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình đa giác đều. Đối với các sản phẩm dạng tấm, lá hoặc băng, mẫu thử thường được cắt trực tiếp từ sản phẩm để giữ nguyên chiều dày nguyên bản.
  • Chiều rộng mẫu thử: Đối với mẫu thử có tiết diện chữ nhật, chiều rộng của mẫu thử phải được xác định phù hợp với chiều dày của nó nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng của hiệu ứng mép biên trong quá trình biến dạng.
  • Chiều dài mẫu thử: Chiều dài tổng thể của mẫu thử phải đủ lớn để đảm bảo mẫu nằm ổn định trên hai gối đỡ của thiết bị thử trong suốt quá trình uốn cong, không bị trượt hoặc rơi khỏi gối đỡ trước khi đạt được góc uốn yêu cầu.

Điều 3: Chuẩn bị bề mặt và gia công mẫu thử

Để loại bỏ các yếu tố gây sai lệch kết quả do khuyết tật bề mặt, tiêu chuẩn quy định nghiêm ngặt về khâu chuẩn bị mẫu:

  • Gia công cơ học: Các cạnh dọc theo chiều dài của mẫu thử phải được bo tròn nhẹ với bán kính lượn góc phù hợp (thường không vượt quá một phần mười chiều dày của mẫu thử). Việc bo tròn này giúp loại bỏ các ứng suất tập trung tại mép cắt, ngăn ngừa hiện tượng nứt sớm không do bản chất vật liệu.
  • Xử lý bề mặt: Bề mặt của mẫu thử phải hoàn toàn sạch sẽ, không được bám vảy oxit, rỉ sét, dầu mỡ hoặc các vết xước sâu do quá trình gia công cắt gọt gây ra. Mọi hoạt động mài nhẵn hoặc đánh bóng bề mặt phải được thực hiện cẩn thận để tránh làm nóng cục bộ, gây thay đổi cấu trúc pha hoặc cơ tính của kim loại.

Điều 4: Thiết bị thử nghiệm và dụng cụ gá lắp

Yêu cầu kỹ thuật đối với thiết bị thử uốn được quy định cụ thể nhằm đảm bảo tính đồng bộ và khả năng tái lập kết quả:

  • Cấu tạo thiết bị: Thiết bị thử uốn (thường là máy thử vạn năng hoặc đồ gá chuyên dụng) phải bao gồm một chày uốn (mũi uốn) và hai gối đỡ có khoảng cách điều chỉnh được.
  • Đường kính chày uốn: Đường kính của chày uốn phải được lựa chọn chính xác dựa trên chiều dày hoặc đường kính của mẫu thử và mác thép/kim loại cụ thể theo quy định của tiêu chuẩn sản phẩm.
  • Yêu cầu đối với gối đỡ và chày uốn: Bề mặt làm việc của gối đỡ và chày uốn phải có độ cứng cao, bề mặt nhẵn bóng để giảm thiểu ma sát với mẫu thử trong quá trình uốn, đồng thời không được bị biến dạng hoặc mẻ mác dưới tác dụng của lực uốn lớn.

TIÊU CHUẨN NHÀ NƯỚC

TCVN 198 – 66

KIM LOẠI

PHƯƠNG PHÁP THỬ UỐN

Tiêu chuẩn này dùng để xác định khả năng biến dạng của mẫu chịu uốn đối với kim loại. Tấm mỏng, ống và dây có quy định riêng. Mẫu có thể thử uốn ở trạng thái nguội hay nóng.

I. CHỈ DẪN CHUNG

Thí nghiệm tiến hành với những mẫu thử có mặt cắt hình chữ nhật, hình tròn hay hình đa giác không thay đổi trên chiều dài của mẫu. Mẫu thử làm việc trong miền biến dạng dẻo và chịu uốn trong cùng một mặt phẳng.

Ký hiệu về kích thước:

a – bề dày của mẫu thử dẹt hay đường kính của mẫu thử tròn.

b – bề rộng của mẫu thử,

D – đường kính gối uốn giữa,

R – bán kính gối uốn.

II. MẪU THỬ

Hình dáng và kích thước của mẫu thử phụ thuộc vào vật liệu.

Nếu vật liệu là:

- thép tấm,

- thép hình các loại (thép góc, thép chữ Ì …),

- thép đai có bề rộng bằng hay lớn hơn 100 mm (mặt cắt chữ nhật),

bề dày a của mẫu thử bằng bề dày của vật liệu (để bảo vệ tầng mặt ngoài), bề rộng của mẫu thử trong khoảng 25 – 50 mm, với sai số là ± 5 mm.

Nếu vật liệu là:

- thép đai có bề rộng bé hơn 100 mm (mặt cắt chữ nhật).

- thép thỏi (hình tròn, hình vuông, …),

mặt cắt ngang của mẫu thử là mặt cắt ngang của vật liệu; chiều dài mẫu thử căn cứ vào kích thước các gối uốn, có thể lấy:

L = D + (2,5 ÷ 3)a + 2R + 20 mm

nhưng không được bé hơn 180 mm.

Nếu thép tấm, thép cán có bề dày lớn hơn 25 mm thì bề dày của mẫu thử lấy 25 mm. Khi cắt gọt chỉ gia công một mặt, mặt còn lại không gia công là mặt ngoài của mẫu khi thử (mặt này là mặt chịu biến dạng kéo). Bề rộng lấy 25 – 50 mm.

Thép thỏi có đường kính (mặt cắt tròn) hay đường kính của vòng tròn ngoại tiếp (mặt cắt đa giác) không được vượt quá 50 mm. Nếu vật liệu có kích thước lớn hơn quy định trên thì cần tiện bớt để đường kính có kích thước 20 – 50 mm.

Những mẫu thử bán thành phẩm hay mẫu rèn, nếu không có quy định riêng, bề dày lấy 20 mm với sai số ± 5mm.

Có thể dùng bất kỳ phương pháp nào để lấy vật liệu làm mẫu thử. Có thể cắt bằng mỏ hàn hơi, vệt cắt phải cách mép của mẫu thử một khoảng lớn hơn bề dày ban đầu của vật liệu, nhưng không được bé hơn 20 mm. Trong phạm vi 1/3 chiều dài mẫu thử ở đoạn giữa không được có vết gia công do chạm, choòng, đục và vết lõm do búa tạo nên.

Mẫu thử gia công bằng cưa, bào, phay, tiện v.v… ở nhiệt độ bình thường, hướng gia công phải song song với trục mẫu thử. Các cạnh của mẫu thử phải được dũa tròn với bán kính không quá 2 mm. Độ nhẵn của mặt bên không dưới Ñ3.

Nếu mẫu thử bị cong thì phải nắn thẳng ở nhiệt độ bình thường, lực tác dụng khi nắn phải là lực tĩnh.

III. PHƯƠNG PHÁP THỬ

Phương pháp thử uốn có thể chia thành 3 loại sau:

1. Góc uốn đạt đến góc α đã quy định (hình 2).

2. Uốn tới khi 2 cạnh của mẫu thử song song với nhau (hình 4).

3. Uốn tới khi 2 cạnh của mẫu tiếp xúc với nhau (hình 7).

Căn cứ theo yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm chọn lấy một trong các phương pháp trên.

Mẫu thử uốn được đặt trên hai gối tựa, nhờ gối uốn giữa mà mẫu thử được uốn cong ở phần giữa (hình 1).

Khoảng cách giữa gối tựa và đường kính của gối uốn được quy định theo các điều kiện kỹ thuật riêng. Nếu không có quy định riêng thì khoảng cách giữa hai gối tựa thường lấy D + (2,5 – 3)a (hình 2).

Bề rộng của gối tựa và gối uốn phải lớn hơn bề rộng của mẫu thử.

Cho phép uốn trên các rãnh hình chữ V (hình 3) có góc của mặt phẳng rãnh là 600 ± 100, chiều rộng của miệng rãnh không bé hơn 125 mm. Bề rộng của rãnh cần lớn hơn bề rộng của mẫu thử.

Nếu sao khi uốn trên các gối hay trên rãnh góc uốn chưa đạt đến góc quy định thì có thể uốn trực tiếp lên hai đầu của mẫu thử (hình 5). Nếu muốn bán kính của góc uốn đạt tới một giá trị nào đó thì có thể dùng tấm đệm giữa hai cạnh của mẫu thử (hình 4).

Nếu mẫu thử cần uốn tới khi hai cạnh tiếp xúc với nhau thì không cần dùng tấm đệm giữa, mà nên tiếp tục uốn cho đến khi hai cạnh tiếp xúc với nhau (hình 7).

Sau khi góc uốn đã đạt tới góc quy định, tiến hành kiểm tra phía ngoài (phía chịu biến dạng kéo) và mặt bên. Nếu không có hiện tượng rạn, nứt hoặc vẩy bong từng lớp (phân tầng) thì mẫu thử đạt yêu cầu. Nếu mẫu thử bị rạn, nứt hay vẩy bong từng lớp (phân tầng) trước khi đạt đến góc quy định thì cần ghi lấy góc uốn mẫu thử bị nứt.

Thử uốn có thể tiến hành trên các máy thí nghiệm vạn năng, máy nén, máy uốn sắt, êtô. Lực uốn phải tăng từ từ và lực tĩnh.

Hình 1

1 – Chiều dày của mẫu a

2 – Mặt cắt ngang của mẫu

3- Khoảng cách giữa hai gối đỡ

5 – Bán kính gối đỡ R

6 – Đường kính gối cuốn D

Hình 2

4 – góc α

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 198:1966 về Kim loại - Phương pháp thử uốn

Số hiệu: TCVN198:1966
Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
Ngày ban hành: 01/01/1966
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Ngưng hiệu lực
Lĩnh vực: Công nghiệp
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 198:1966 về Kim loại...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký