Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4347:1986
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4347:1986 quy định phương pháp xác định hàm lượng silic dioxyt (SiO2) trong đất sét dùng để sản xuất gạch ngói nung. Đây là chỉ tiêu hóa học cốt lõi quyết định đến tính chất cơ lý, độ co ngót và khả năng chịu nhiệt của nguyên liệu đất sét trong quá trình gia công và nung sản phẩm.
Quy định chung và chuẩn bị mẫu thử (Điều 1 - Điều 4)
Để đảm bảo tính chính xác và độ lặp lại của kết quả phân tích hóa học, tiêu chuẩn đưa ra các yêu cầu nghiêm ngặt về chuẩn bị mẫu, hóa chất và thiết bị sử dụng:
- Yêu cầu về mẫu thử: Mẫu đất sét phải được lấy và chuẩn bị theo đúng quy định kỹ thuật hiện hành. Mẫu phân tích phải được nghiền mịn đến kích thước hạt hoàn toàn lọt qua sàng có kích thước lỗ danh nghĩa theo tiêu chuẩn, sau đó được sấy khô ở nhiệt độ quy định (thường từ 105 đến 110 độ C) đến khối lượng không đổi trước khi tiến hành cân phân tích.
- Hóa chất và nước dùng trong phân tích: Tất cả các hóa chất, thuốc thử sử dụng trong quá trình phân tích phải thuộc loại tinh khiết phân tích (TKPT). Nước dùng để pha chế dung dịch và rửa kết tủa phải là nước cất hoặc nước có độ tinh khiết tương đương nhằm tránh lẫn tạp chất gây sai lệch kết quả.
- Thiết bị và dụng cụ: Phép phân tích yêu cầu sử dụng cân phân tích có độ chính xác đến 0,0001g, các dụng cụ thủy tinh chịu nhiệt chuyên dụng, chén bạch kim dùng cho quá trình nung chảy mẫu và lò nung điện có khả năng khống chế nhiệt độ ổn định ở mức cao.
Phương pháp xác định hàm lượng Silic Dioxyt (SiO2)
Tiêu chuẩn quy định chi tiết quy trình kỹ thuật để phân tích hàm lượng silic dioxyt thông qua phương pháp khối lượng (phương pháp trọng lượng kết hợp xử lý bằng axit flohydric):
- Nguyên tắc của phương pháp: Phân hủy mẫu đất sét bằng cách nung chảy với chất chảy thích hợp (thường là hỗn hợp natri cacbonat và kali cacbonat) trong chén bạch kim ở nhiệt độ cao. Hòa tan khối nóng chảy bằng dung dịch axit clohydric loãng. Tiến hành cô cạn dung dịch để tách nước của axit silicic, lọc lấy kết tủa axit silicic, rửa sạch, nung ở nhiệt độ cao để chuyển thành silic dioxyt thô và cân. Sau đó, xử lý kết tủa bằng axit flohydric để bay hơi silic dưới dạng silic tetraflorua (SiF4), nung lại và cân khối lượng còn lại. Hàm lượng silic dioxyt tinh khiết được xác định dựa trên hiệu số khối lượng trước và sau khi xử lý bằng axit flohydric.
- Các bước tiến hành cụ thể:
- Nung chảy mẫu: Cân một lượng mẫu thử chính xác cho vào chén bạch kim, trộn đều với chất chảy theo tỷ lệ quy định. Tiến hành nung chảy hỗn hợp trong lò nung ở nhiệt độ từ 950 đến 1000 độ C cho đến khi phản ứng xảy ra hoàn toàn và thu được khối nóng chảy đồng nhất, trong suốt.
- Hòa tan và cô cạn tách nước: Chuyển toàn bộ khối nóng chảy vào bát sứ hoặc bát bạch kim, hòa tan bằng dung dịch axit clohydric loãng và đun nóng nhẹ. Tiến hành cô cạn dung dịch trên bếp cách thủy cho đến khi khô kiệt để cô đặc và tách nước hoàn toàn của axit silicic.
- Lọc và rửa kết tủa: Thêm axit clohydric và nước cất nóng vào cặn khô để hòa tan các muối tan. Lọc gạn kết tủa axit silicic qua giấy lọc không tro (loại chảy trung bình hoặc chậm). Rửa sạch kết tủa trên giấy lọc bằng dung dịch axit clohydric loãng nóng, sau đó rửa bằng nước cất nóng cho đến khi sạch hoàn toàn ion clorua (thử bằng dung dịch bạc nitrat).
- Nung và cân silic dioxyt thô: Chuyển giấy lọc có kết tủa vào chén bạch kim đã được nung ở nhiệt độ 1000 - 1100 độ C đến khối lượng không đổi. Tiến hành sấy, tro hóa giấy lọc ở nhiệt độ thấp, sau đó nung ở nhiệt độ 1000 - 1100 độ C trong lò nung khoảng 1 giờ. Để nguội trong bình hút ẩm và cân để xác định khối lượng silic dioxyt thô cùng tạp chất.
- Xử lý bằng axit flohydric (HF): Thấm ướt kết tủa trong chén bạch kim bằng vài giọt nước, thêm vài giọt axit sunfuric loãng và khoảng 5 - 10 ml axit flohydric. Bốc hơi hỗn hợp trên bếp cát hoặc bếp điện cho đến khi ngừng tỏa khói trắng của axit sunfuric. Nung lại chén bạch kim ở nhiệt độ 1000 - 1100 độ C trong khoảng 15 - 20 phút, để nguội trong bình hút ẩm và cân khối lượng còn lại.
- Tính toán kết quả: Hàm lượng silic dioxyt (SiO2) được tính bằng phần trăm khối lượng (%) theo công thức toán học dựa trên hiệu số khối lượng của chén bạch kim chứa kết tủa trước và sau khi xử lý bằng axit flohydric, chia cho khối lượng mẫu thử khô ban đầu và nhân với hệ số phần trăm. Kết quả cuối cùng là giá trị trung bình cộng của ít nhất hai phép xác định song song.
Đánh giá sai số và độ tin cậy của phép phân tích
Để đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của quy trình thử nghiệm, tiêu chuẩn đưa ra các giới hạn sai số cho phép:
- Chênh lệch cho phép: Sai lệch giữa hai kết quả xác định song song tiến hành trên cùng một mẫu thử không được vượt quá trị số giới hạn quy định trong tiêu chuẩn (tùy thuộc vào hàm lượng silic dioxyt thực tế trong mẫu). Nếu sai lệch vượt quá giới hạn cho phép, phải tiến hành phân tích lại mẫu từ đầu.
- Báo cáo thử nghiệm: Kết quả phân tích phải được trình bày rõ ràng trong biên bản thử nghiệm, bao gồm các thông tin về ký hiệu mẫu, phương pháp áp dụng, kết quả của các lần xác định song song, kết quả trung bình và mọi hiện tượng bất thường (nếu có) trong quá trình phân tích.
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM
TCVN 4347 : 1986
ĐẤT SÉT ĐỂ SẢN XUẤT GẠCH NGÓI NUNG - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG SILIC DIOXYT
Clay for production of burnt tiles and bricks. - Method for determination of silic dioxide content
1. Quy định chung
Theo TCVN 4346: 1986.
2. Phương pháp thử
2.1. Nguyên tắc
Phân giải mẫu đất bằng cách nung chảy với hỗn hợp kali cacbonat, natri cacbonat, hoà tan khối nung chảy bằng axit clohyđric, cô cạn dung dịch (2 lần) để tách nước của axit silisic; nung kết tủa axit silisic ở l0000C và xử lý bằng axit flohyđric để tách silic ở dạng silic tetraflorua.
2.2. Thiết bị và hoá chất
Lò nung điện, nhiệt độ nung t0 max 10000C;
Bếp cách cát hoặc cách thuỷ tinh;
Chén nung bằng bạch kim dung tích khoảng 30ml;
Bát sứ đáy bằng hoặc cốc thuỷ tinh chịu nhiệt dung tích 300ml;
Giấy lọc không tro, băng vàng;
Axit clohydric theo TCVN 2298 - 1978 và pha loãng (1 + 1);
Axit sunfuric theo TCVN 2718 - 1978 và pha loãng (1 + 1);
Axit flohyđric 38 – 40%.
Dung dịch bạc nitrat 0,5%;
Hỗn hợp kali cacbonat và natri cacbonat khan tỷ lệ 1:1;
Kali pyrosunfat;
2.3. Chuẩn bị thử
Mẫu sau khi đã lấy theo TCVN 4344: 1986, trước khi phân tích hoá được chuẩn bị hư sau: Sàng mẫu qua sảng có kích thước lỗ 2mm. Cần khoảng 200g phần lọt qua sàng, dùng phương pháp chia tư để rút gọn được l00g rồi nghiền đến cỡ hạt không lớn hơn 0,5mm. Tiếp tục dùng phương pháp chia tư lấy khoảng 60g và lại nghiền đến cỡ hạt 0,2mm. Sau đó lại rút gọn mẫu theo phương pháp chia tư để có khoảng 30g. Lượng mẫu này được nghiền mịn trên cối mã não đến cỡ hạt 0,063 mm để làm mẫu phân tích hoá học. Phần mẫu còn lại dùng làm mẫu lưu.
Trước khi tiến hành phân tích hoá học, mẫu được sấy ở nhiệt độ l05 r 50C đến khối lượng không đổi, rồi trộn đều trước khi cân mẫu.
2.4. Tiến hành thử
2.4.1. Cân 0,5g mẫu đã được chuẩn bị theo điều 2.3 vào chén bạch kim đã lót sẵn 5- 6g hỗn hợp nung chảy kali, natri cacbonat và trộn đều, phủ lên trên một lớp hỗn hợp nung chảy dày 2 - 3mm. Nung mẫu ở nhiệt độ 9500C trong 30 - 40 phút, để nguội và chuyển toàn bộ khối nung chảy sang bát sứ (hoặc cốc thuỷ tinh chịu nhiệt) dùng nước đun sôi và dung dịch axit clohyđric ( 1 + 1) rửa sạch chén bạch kim. Đậy bát sứ bằng mặt kính đồng hồ và thêm từ từ 30ml axit clohyđric đậm đặc ( d = 1,19) sau khi mẫu đã tan hết, dùng nước đun sôi rửa sạch thành bát và mặt kính đồng hồ, dùng đũa thuỷ tinh khuấy đều dung dịch.
Cô cạn dung dịch trên bếp cách thuỷ hoặc cách cát (ở nhiệt độ 100- 1100C) đến hô, dầm nhỏ các hạt muối tạo thành đến cỡ hạt 2 - 3mm, tiếp tục cô mẫu ở nhiệt độ trên từ l giờ đến l giờ 30 phút nữa. Để nguội mẫu thử, thêm vào bát l0ml axit clohyđric đậm đặc, để yên l0 phút, thêm tiếp vào bát sứ l00ml nước đun sôi và khuấy đều cho tan muối. Lọc dung dịch khi còn nóng qua giấy lọc băng vàng, dùng nước đun sôi rửa kết tủa và giấy lọc đến hết ion clo trong nước rửa (thử bằng dung dịch bạc nitrat 0,5%).
Chuyển dung dịch lọc và nước rửa trở lại bát sứ, lập lại quá trình cô cạn như lần đầu. Sau khi mẫu đã khô kiệt, để nguội bát sứ rồi thêm vào bát 10ml axit clohydric đậm đặc, 80ml nước đun sôi, khuấy đều cho tan muối. Lọc dung dịch khi còn nóng qua một giấy lọc băng vàng khác, dùng nước sôi chuyển toàn bộ kết tủa dính ở bát sang giấy lọc, rửa kết tủa và giấy lọc đến hết ion clo trong nước rửa (thử bằng dung dịch bạc nitrat 0,5%) .
Dung dịch lọc rửa chứa trong bình định mức 250ml.
Gộp chung giấy lọc có kết tủa axit silisic (Sau 2 lần cô cạn) vào chén bạch kim đốt giấy lọc thành than trên bếp điện. Đưa chén bạch kim vào lò nung, tăng nhiệt độ đến 10000C và giữ ở nhiệt độ này l giờ, làm nguội chén trong bình chống ẩm đến nhiệt độ phòng rồi cân. Lập lại quá trình nung ở 10000C trong 15 phút, làm nguội và cận đến khi thu được khối lượng không đổi.
Thấm ướt kết tủa trong chén bạch kim bằng vài giọt nước, thêm vào chén 0,5ml dung dịch axit sunfuric (1 + 1) và 10ml axit flohyđric (40% ) làm bay hơi các chất chứa trong chén trên bếp điện đến khô, thêm tiếp vào chén 3 - 4ml axit flohyđric và cho bay hơi đến khi ngừng bốc khói trắng.
Nung chén bạch kim ở nhiệt độ 1000C trong 15 phút, làm nguội trong bình chống ẩm và cân.
2.4.2. Nung chảy cặn còn lại trong chén với 3 - 4g kali pyrosunfat đến tan và trong. Hoà tan khối nung chảy bằng nước cất có mặt 2 - 3 ml axit clohyđric đậm đặc, đun cho tan trong, gộp chung dung dịch này với dung dịch nước lọc rửa trong bình định mức 250ml định mức và lắc đều:
Dung dịch trong bình định mức 250ml này dùng để xác định nhôm, sắt, canxi, magiê (dung dịch A).
3. Tính kết quả
3.1. Hàm lượng silic đioxyt (X1), tính bằng phần trăm, theo công thức:
![]()
Trong đó:
m1- Khối lượng chén bạch kim và kết tủa trước khi xử lí bằng axit flohyđric, tính bằng g;
m2- Khối lượng chén bạch kim và cặn còn lại sau khi xử lí bằng axit flohyđric, tính bằng g;
M- Là lượng mẫu thử, lấy đem xác định hàm lượng silic đioxit, tính bằng g
3.2. Chênh lệch giữa hai kết quả xác định song song không lớn hơn 0,06% (tuyệt đối).
- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2298:1978 về thuốc thử, axit clohydric do Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4346:1986 về đất sét để sản xuất gạch, ngói nung - phương pháp phân tích hóa học - quy định chung
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4344:1986 đất sét để sản xuất gạch, ngói nung - lấy mẫu
- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2298:1978 về thuốc thử, axit clohydric do Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật ban hành
- 2 Tiêu chuẩn xây dựng TCXD 153:1986 về cát sử dụng trong công nghiệp thủy tinh - phương pháp xác định hàm lượng silic điôxit SiO2
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4346:1986 về đất sét để sản xuất gạch, ngói nung - phương pháp phân tích hóa học - quy định chung
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4351:1986 về đất sét để sản xuất gạch ngói nung - phương pháp xác định hàm lượng magie oxyt
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4344:1986 đất sét để sản xuất gạch, ngói nung - lấy mẫu
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7131:2002 về đất sét - phương pháp phân tích hoá học do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành