Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Giới thiệu chung về Tuyên bố năm 1975

Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác được thông qua vào năm 1975 là một văn kiện pháp lý quốc tế mang tính nền tảng trong nỗ lực bảo vệ quyền con người. Văn kiện này thiết lập các nguyên tắc cốt lõi nhằm ngăn chặn, trừng trị hành vi tra tấn và bảo vệ phẩm giá tự nhiên của con người trước các hành vi lạm quyền của người thi hành công vụ.

1. Định nghĩa pháp lý và bản chất của hành vi tra tấn (Điều 1 và Điều 2)

Tuyên bố đưa ra định nghĩa chi tiết và xác định rõ bản chất pháp lý của hành vi tra tấn đối với nhân quyền:

  • Định nghĩa về tra tấn: Là bất kỳ hành vi nào cố ý gây ra sự đau đớn hoặc chịu đựng nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thần cho một người. Hành vi này phải được thực hiện bởi hoặc theo sự thúc đẩy, đồng thuận của một công chức.
  • Mục đích của hành vi tra tấn: Nhằm thu thập thông tin hoặc lời thú tội từ nạn nhân hoặc từ một người thứ ba; trừng phạt nạn nhân vì hành vi mà họ đã thực hiện hoặc bị nghi ngờ đã thực hiện; hoặc để đe dọa, khống chế nạn nhân hoặc người khác.
  • Trường hợp loại trừ: Tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc chịu đựng phát sinh tự nhiên hoặc ngẫu nhiên từ các chế tài hợp pháp, miễn là các chế tài này phù hợp với Các tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân.
  • Bản chất pháp lý: Tra tấn là hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục ở mức độ nghiêm trọng và cao độ nhất. Hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến phẩm giá con người, vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc và các quyền tự do cơ bản được ghi nhận trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người.

2. Nguyên tắc nghiêm cấm tuyệt đối và nghĩa vụ của quốc gia (Điều 3 và Điều 4)

Tuyên bố khẳng định tính chất tuyệt đối không thể nhân nhượng của lệnh cấm tra tấn:

  • Không có ngoại lệ biện minh: Không một quốc gia nào được phép cho phép hoặc dung túng cho hành vi tra tấn hoặc đối xử tàn ác. Các tình trạng khẩn cấp như chiến tranh, đe dọa chiến tranh, bất ổn chính trị nội bộ hoặc bất kỳ tình huống khẩn cấp công cộng nào khác đều không thể được viện dẫn để biện minh cho hành vi tra tấn.
  • Nghĩa vụ phòng ngừa của quốc gia: Mỗi quốc gia có trách nhiệm thực hiện các biện pháp hữu hiệu và thực tế trong phạm vi thẩm quyền tài phán của mình để ngăn chặn triệt để các hành vi tra tấn hoặc đối xử tàn ác, vô nhân đạo, hạ nhục con người.

3. Công tác đào tạo cán bộ và giám sát hệ thống giam giữ (Điều 5 và Điều 6)

Để ngăn ngừa tra tấn từ sớm, văn kiện chú trọng vào công tác giáo dục và kiểm soát quy trình giam giữ:

  • Đào tạo cán bộ thực thi pháp luật: Việc đào tạo các cán bộ thực thi pháp luật và các công chức chịu trách nhiệm quản lý người bị tước tự do phải bảo đảm nội dung cấm tra tấn được truyền đạt đầy đủ. Lệnh cấm này phải được đưa vào các quy tắc hoặc hướng dẫn chung liên quan đến nhiệm vụ của những người tham gia vào quá trình giam giữ hoặc xử lý người bị tước tự do.
  • Rà soát hệ thống giam giữ: Các quốc gia phải tiến hành xem xét một cách có hệ thống các phương pháp, biện pháp tra hỏi cũng như các thỏa thuận về việc giam giữ, đối xử với người bị tước tự do trên lãnh thổ của mình nhằm ngăn chặn mọi nguy cơ xảy ra tra tấn.

4. Hình sự hóa hành vi tra tấn và cơ chế khiếu nại, điều tra (Điều 7, Điều 8 và Điều 9)

Tuyên bố yêu cầu thiết lập các công cụ pháp lý và tư pháp mạnh mẽ để xử lý vi phạm:

  • Hình sự hóa toàn diện: Quốc gia phải bảo đảm mọi hành vi tra tấn đều là tội phạm theo quy định của luật hình sự nước mình. Quy định này cũng phải áp dụng đối với các hành vi đồng lõa, tham gia, kích động hoặc cố gắng thực hiện hành vi tra tấn.
  • Quyền khiếu nại của nạn nhân: Bất kỳ cá nhân nào cho rằng mình bị tra tấn hoặc đối xử tàn ác bởi công chức đều có quyền khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước và được xem xét một cách độc lập, vô tư.
  • Nghĩa vụ tự động điều tra: Ngay cả khi không có khiếu nại chính thức, nếu có cơ sở hợp lý để tin rằng hành vi tra tấn đã xảy ra, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia phải lập tức tiến hành cuộc điều tra vô tư và khách quan.

5. Chế tài xử lý, bồi thường thiệt hại và giá trị chứng cứ (Điều 10, Điều 11 và Điều 12)

Các điều khoản cuối cùng tập trung vào việc xử lý người vi phạm, khắc phục hậu quả cho nạn nhân và bảo vệ tính công bằng của công lý:

  • Khởi tố và xử lý kỷ luật: Nếu kết quả điều tra cho thấy có dấu hiệu của hành vi tra tấn, thủ tục tố tụng hình sự phải được tiến hành ngay lập tức đối với người bị cáo buộc theo luật pháp quốc gia. Đối với các hình thức đối xử tàn ác khác, người vi phạm phải chịu sự điều chỉnh của thủ tục tố tụng hình sự, xử lý kỷ luật hoặc các thủ tục thích hợp khác.
  • Bồi thường và phục hồi cho nạn nhân: Khi xác định có hành vi tra tấn hoặc đối xử tàn ác do công chức thực hiện, nạn nhân phải được phục hồi và bồi thường thiệt hại thỏa đáng theo quy định của pháp luật quốc gia.
  • Loại trừ chứng cứ thu được từ tra tấn: Bất kỳ lời khai nào có được do kết quả của hành vi tra tấn hoặc đối xử tàn ác, vô nhân đạo, hạ nhục đều không được phép viện dẫn làm chứng cứ chống lại người khai hoặc chống lại bất kỳ ai khác trong bất kỳ thủ tục tố tụng nào.

TUYÊN BỐ

VỀ BẢO VỆ MỌI NGƯỜI KHỎI BỊ TRA TẤN VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐỐI XỬ HAY TRỪNG PHẠT TÀN ÁC, VÔ NHÂN ĐẠO HAY HẠ NHỤC KHÁC, 1975

(Thông qua bởi Nghị quyết Đại Hội đồng số 3452 (XXX) ngày 09/12/1975).

Điều 1.

1. Với mục đích của bản Tuyên Ngôn này, ”tra tấn” có nghĩa là bất kỳ hành động mà theo đó dẫn đến sự đau đớn hoặc chịu đựng nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thần, được cố ý gây ra bởi / hoặc theo sự thúc đẩy, của một công chức đối với một người nhằm các mục đích như có được từ người đó hoặc người thứ ba thông tin hoặc lời thú tội, trừng phạt người đó vì hành vi đã thực hiện hoặc là bị nghi đã thực hiện, hoặc đe dọa người đó hay người khác. Tra tấn không bao gồm sự đau đau đớn hoặc chịu đựng thuộc tính hay ngẫu nhiên phát sinh từ các chế tài hợp pháp dưới mức tối thiểu phù hợp với Các tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân.

2. Tra tấn cấu thành một hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác trầm trọng và cao độ hơn.

Điều 2.

Bất kỳ hành động tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác là một hành vi xâm phạm đến phẩm giá con người và sẽ bị lên án như là một sự chối bỏ những mục đích của Hiến chương Liên Hợp Quốc và như là một vi phạm nhân quyền và tự do cơ bản đã được tuyên bố trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người.

Điều 3.

Không nhà nước nào có thể cho phép hoặc tha thứ việc tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác. Các trường hợp ngoại lệ như tình trạng chiến tranh hoặc đe dọa chiến tranh, bất ổn chính trị nội bộ hoặc bất kỳ trường hợp khẩn cấp công cộng khác không thể được viện dẫn như là một biện minh cho tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác.

Điều 4.

Mỗi nhà nước, phù hợp với quy định của Bản Tuyên Ngôn này, có biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa việc tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác được thực hiện trong phạm vi thẩm quyền của mình.

Điều 5.

Việc đào tạo cán bộ thực thi pháp luật và công chức khác có thể chịu trách nhiệm quản lý những người bị tước tự do cần phải đảm bảo sự quan tâm đầy đủ đến việc ngăn cấm tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác. Điều cấm này, khi thích hợp, cũng sẽ được bao gồm trong các quy tắc hoặc hướng dẫn chung được ban hành liên quan đến các nhiệm vụ và chức năng của bất cứ ai có thể tham gia vào việc giam giữ hoặc xử lý những người đó.

Điều 6.

Mỗi nhà nước sẽ có các phương pháp và biện pháp xem xét có hệ thống, cũng như sắp xếp cho việc giam giữ hoặc xử lý người bị tước tự do trong lãnh thổ của mình, nhằm ngăn chặn bất kỳ trường hợp bị tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác.

Điều 7.

Mỗi nhà nước phải đảm bảo rằng tất cả các hành vi tra tấn như quy định tại Điều 1 là hành vi tội phạm theo luật hình sự của mình. Điều tương tự cũng được áp dụng đối với các hành vi cấu thành việc tham gia, đồng lõa, kích động hoặc cố gắng thực hiện việc tra tấn.

Điều 8.

Bất kỳ người nào cho rằng mình đã bị tra tấn hoặc bị đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác bởi hoặc theo sự thúc đẩy của một công chức, có quyền khiếu nại, và được xem xét một cách vô tư, đến các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước liên quan.

Điều 9.

Bất cứ nơi nào có cơ sở hợp lý để tin rằng một hành động tra tấn như quy định tại Điều 1 đã được thực hiện, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước liên quan phải kịp thời tiến hành một cuộc điều tra vô tư ngay cả khi chưa có khiếu nại chính thức.

Điều 10.

Nếu một cuộc điều tra theo Điều 8 hoặc Điều 9 xác định rằng một hành động tra tấn như quy định tại Điều 1 dường như đã được thực hiện, thủ tục tố tụng hình sự phải được thiết lập chống lại người hay những người bị cáo buộc phạm tội theo quy định của luật pháp quốc gia. Nếu một cáo buộc của các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác được coi là cũng có căn cứ, người hoặc những người bị cáo buộc phạm tội phải chịu sự điều chỉnh của thủ tục tố tụng hình sự, xử lý kỷ luật hoặc các thủ tục tố tụng thích hợp khác.

Điều 11.

Trường hợp chứng minh rằng một hành vi tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác đã được thực hiện bởi hoặc theo sự thúc đẩy của một công chức, các nạn nhân sẽ phải được phục hồi và bồi thường theo quy định của luật pháp quốc gia.

Điều 12.

Bất kỳ lời khai nào đã được xác lập mà có được bởi kết quả của tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác không thể được viện dẫn làm bằng chứng chống lại người có liên quan hoặc chống lại bất kỳ người nào khác trong bất kỳ thủ tục tố tụng nào.

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1975

Số hiệu: Khongso
Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Ngày ban hành: 09/12/1975
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký