Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu về Công văn 15249/BTC-TCT năm 2016

Công văn 15249/BTC-TCT do Bộ Tài chính ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư. Văn bản này tháo gỡ các vướng mắc thực tế của doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương trong việc xác định đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT, cách thức lập hóa đơn và khấu trừ thuế GTGT đầu vào liên quan đến dự án đầu tư được chuyển nhượng.

Các nội dung chính sách cốt lõi của Công văn 15249/BTC-TCT

- Quy định về trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT khi chuyển nhượng dự án đầu tư

  • Doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác thì thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.
  • Điều kiện áp dụng: Dự án đầu tư được chuyển nhượng phải là dự án sản xuất, kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Đồng thời, bên nhận chuyển nhượng phải là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp hoặc hợp tác xã) để tiếp tục thực hiện dự án đầu tư.
  • Trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư cho cá nhân, hộ kinh doanh hoặc các đối tượng không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã thì bên chuyển nhượng vẫn phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất quy định (thông thường là 10%).

- Hướng dẫn lập hóa đơn đối với hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư

  • Khi thực hiện chuyển nhượng dự án đầu tư thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT, bên chuyển nhượng phải lập hóa đơn GTGT theo quy định.
  • Trên hóa đơn GTGT, tại chỉ tiêu dòng thuế suất và tiền thuế GTGT phải gạch chéo hoặc ghi rõ là không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật hiện hành.
  • Hóa đơn này là căn cứ pháp lý để bên nhận chuyển nhượng hạch toán tăng tài sản, ghi nhận giá trị dự án đầu tư nhận chuyển nhượng và thực hiện các thủ tục pháp lý tiếp theo liên quan đến dự án.

- Nguyên tắc khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào đối với dự án nhận chuyển nhượng

  • Bên nhận chuyển nhượng dự án đầu tư được kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ về thuế GTGT của dự án nhận chuyển nhượng, bao gồm cả số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết của dự án tính đến thời điểm chuyển nhượng.
  • Số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư nhận chuyển nhượng được kê khai, khấu trừ hoặc hoàn thuế tại bên nhận chuyển nhượng nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về hóa đơn, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định.
  • Trường hợp dự án đầu tư đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, bên nhận chuyển nhượng tiếp tục thực hiện dự án và được áp dụng chính sách hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư theo quy định của Luật Thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành.

- Trách nhiệm của người nộp thuế và cơ quan thuế địa phương

  • Người nộp thuế (bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng) có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, hợp đồng chuyển nhượng dự án, chứng từ thanh toán và các tài liệu liên quan để chứng minh tính hợp pháp của giao dịch chuyển nhượng dự án đầu tư.
  • Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện chính sách thuế GTGT của các doanh nghiệp trên địa bàn, đảm bảo việc áp dụng đúng đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế, tránh thất thu ngân sách nhà nước nhưng đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp.

Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của văn bản

Công văn 15249/BTC-TCT mang lại sự rõ ràng, minh bạch cho môi trường đầu tư bằng cách cụ thể hóa các quy định tại Thông tư số 219/2013/TT-BTC. Việc miễn kê khai, tính nộp thuế GTGT đối với giao dịch chuyển nhượng dự án giữa các doanh nghiệp giúp giảm bớt gánh nặng tài chính, tránh việc ứ đọng vốn thuế GTGT của doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu, mua bán sáp nhập dự án (M&A), từ đó thúc đẩy thị trường đầu tư phát triển lành mạnh.

kBỘ TÀI CHÍNH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 15249/BTC-TCT
V/v chính sách thuế GTGT

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2016

 

Kính gửi: Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang

Bộ Tài chính nhận được công văn số 1339/UBND-KTTH ngày 16/9/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đề nghị tháo gỡ vướng mắc về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định về thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký thuế:

“Điều 8. Thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký thuế

1. Khi có thay đổi, bổ sung thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế đã nộp, người nộp thuế phải thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp (ghi trên giấy chứng nhận đăng ký thuế, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày có sự thay đổi, bổ sung thông tin.

Đối với người nộp thuế đã được cấp đăng ký thuế nhưng chưa thông báo thông tin về các tài khoản của người nộp thuế đã mở tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng với cơ quan thuế trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì phải thông báo bổ sung, thời hạn chậm nhất ngày 31 tháng 12 năm 2013.

Người nộp thuế trong quá trình sản xuất kinh doanh, định kỳ hàng quý khi có thay đổi, bổ sung số tài Khoản tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng thì phải thông báo cho cơ quan thuế tại tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính hàng quý”.

Tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào:

“Điều 15. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

1. Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.

3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế)”.

Tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ về xử phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan, đến xác định nghĩa vụ thuế:

2. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

a) Cung cấp không đầy đủ, không chính xác các thông tin, tài liệu, chứng từ, hóa đơn, sổ kế toán liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế trong thời hạn kê khai thuế; số hiệu tài khoản, số dư tài khoản tiền gửi cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.

b) Không cung cấp đầy đủ, đúng các chỉ tiêu, số liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế phải đăng ký theo chế độ quy định, bị phát hiện nhưng không làm giảm nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước.

c) Không cung cấp; cung cấp không đầy đủ, không chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến tài khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, công nợ bên thứ ba có liên quan trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan thuế yêu cầu”.

Căn cứ quy định nêu trên, về nguyên tắc đối với người nộp thuế đã được cấp đăng ký thuế nhưng chưa thông báo thông tin về các tài khoản của người nộp thuế đã mở tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng với cơ quan thuế trước thời điểm Nghị định 83/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, thì phải thông báo bổ sung, thời hạn chậm nhất ngày 31/12/2013. Người nộp thuế trong quá trình sản xuất kinh doanh, định kỳ hàng quý khi có thay đổi, bổ sung số tài khoản tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng thì phải thông báo cho cơ quan thuế.

Theo quy định nêu trên, hướng dẫn về tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tại Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính (áp dụng từ ngày 01/01/2014) là phù hợp với quy định của Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ.

Đối với trường hợp cụ thể của Công ty CP Hưng Lâm ở An Giang thì qua công tác xác minh hóa đơn của cơ quan thuế thì trường hợp của Công ty cổ phần Hưng Lâm không phải là việc người mua không đăng ký/thông báo tài khoản ngân hàng với cơ quan thuế mà bản chất là Công ty cổ phần Hưng Lâm có hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Về nội dung này, Bộ Tài chính đã có công văn số 13409/BTC-TCT ngày 23/9/2016 báo cáo Văn phòng Chính phủ, tại công văn cũng nêu rõ: “Việc nêu căn cứ Công ty cphần Hưng Lâm sử dụng các tài khoản chưa thực hiện thông báo thông tin với cơ quan thuế để thanh toán tiền mua hàng là để nhắc nhở Công ty thực hiện đúng quy định của pháp luật thuế, không phải là căn cứ để không thực hiện hoàn thuế GTGT cho doanh nghiệp.”

Đối với những trường hợp xác định được giao dịch mua bán hàng hóa giữa người mua và người bán (nhà cung cấp) là có thật; hóa đơn do người bán hàng hóa/cung cấp dịch vụ xuất cho người mua là hóa đơn hợp pháp; bên bán có khai thuế theo quy định và việc không đăng ký tài khoản với cơ quan thuế chỉ là hành vi vi phạm thủ tục thì người mua được khấu trừ thuế GTGT đầu vào nếu đáp ứng các điều kiện khác về khấu trừ theo quy định. Cơ quan thuế thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với bên bán/bên mua chưa đăng ký/thông báo tài khoản theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ.

Bộ Tài chính trả lời để Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang được biết.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn (để báo cáo);
- Vụ CST, PC - BTC;
- Vụ PC, KK, KTNB, TTr - TCT;
- Lưu: VT, TCT(VT, CS (3b)).

TL. BỘ TRƯỞNG
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




C
ao Anh Tuấn

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 15249/BTC-TCT năm 2016 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành

Số hiệu: 15249/BTC-TCT
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 26/10/2016
Nơi ban hành: Bộ Tài chính
Người ký: Cao Anh Tuấn
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 26/10/2016
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 15249/BTC-TCT năm 2016 về chính sách...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký