Giới thiệu về Công văn 1913/TCT-CS năm 2014
Công văn 1913/TCT-CS được Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn giải quyết các vướng mắc liên quan đến chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan thuế địa phương thống nhất cách áp dụng điều kiện khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hóa xuất khẩu theo quy định pháp luật.
Quy định chung về chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Theo quy định của pháp luật về thuế GTGT, để hàng hóa xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% và được khấu trừ, hoàn thuế đầu vào, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Công văn 1913/TCT-CS làm rõ các nội dung sau:
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng là chứng từ chứng minh tiền được chuyển từ tài khoản của phía nước ngoài (bên mua) sang tài khoản của bên xuất khẩu (bên bán) mở tại ngân hàng Việt Nam.
- Việc thanh toán phải phù hợp với các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng xuất khẩu và các phụ lục hợp đồng kèm theo (nếu có).
- Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp thanh toán qua bên thứ ba
Một trong những nội dung cốt lõi của Công văn 1913/TCT-CS là hướng dẫn xử lý trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho bên thứ ba thanh toán tiền hàng xuất khẩu. Để được chấp nhận là chứng từ thanh toán hợp lệ, doanh nghiệp cần đáp ứng các điều kiện:
- Sự đồng thuận trong hợp đồng: Việc thanh toán qua bên thứ ba phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng xuất khẩu hoặc phụ lục hợp đồng bằng văn bản trước khi thực hiện thanh toán.
- Thông tin trên chứng từ: Chứng từ thanh toán của ngân hàng phải thể hiện rõ tên của bên thứ ba được ủy quyền thanh toán, số hợp đồng xuất khẩu hoặc số hóa đơn thương mại liên quan.
- Tính hợp pháp của bên thứ ba: Bên thứ ba có thể là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, hoạt động phù hợp với quy định pháp luật của quốc gia sở tại và không vi phạm các quy định về kiểm soát dòng tiền của Việt Nam.
Xử lý các trường hợp sai sót hoặc bất đồng bộ thông tin
Công văn cũng đưa ra định hướng giải quyết cho các cơ quan thuế khi kiểm tra hồ sơ hoàn thuế gặp trường hợp thông tin trên chứng từ thanh toán có sai lệch nhỏ:
- Nếu có sự khác biệt nhỏ về tên doanh nghiệp, địa chỉ hoặc số hợp đồng trên chứng từ thanh toán do lỗi đánh máy hoặc quy ước viết tắt của ngân hàng nước ngoài, cơ quan thuế cần phối hợp với ngân hàng phục vụ doanh nghiệp để xác minh bản chất dòng tiền.
- Nếu xác định được dòng tiền thực tế là tiền thanh toán cho lô hàng xuất khẩu của doanh nghiệp và không có dấu hiệu gian lận, cơ quan thuế vẫn xem xét chấp nhận chứng từ đó để giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp.
Trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan thuế
Văn bản nhấn mạnh vai trò giám sát và tự chịu trách nhiệm của các bên liên quan:
- Đối với doanh nghiệp: Phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các hồ sơ, chứng từ xuất khẩu và chứng từ thanh toán cung cấp cho cơ quan thuế.
- Đối với cơ quan thuế: Có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra kỹ lưỡng dòng tiền thanh toán qua ngân hàng. Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu nghi ngờ dòng tiền ảo hoặc thanh toán khống, cơ quan thuế có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin chi tiết hoặc tạm dừng hoàn thuế để xác minh làm rõ.
| BỘ TÀI CHÍNH ------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1913/TCT-CS | Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2014 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh An Giang.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 259/CT-KTTr2 ngày 25/02/2014 của Cục Thuế tỉnh An Giang báo cáo về nguồn gốc tiền của doanh nghiệp Campuchia thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu của Công ty TNHH SXTM Trung Tín. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ điểm 3a, Điều 16 Chương IIII Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính quy định về việc thanh toán qua ngân hàng như sau:
"a) Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp ủy thác xuất khẩu thì phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng của phía nước ngoài cho bên nhận ủy thác và bên nhận ủy thác phải thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua ngân hàng cho bên ủy thác."
Theo trình bày của Cục Thuế tỉnh An Giang, Cục thuế kiểm tra hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT đầu vào của mặt hàng sắt, thép xuất khẩu sang Campuchia của Công ty TNHH SXTM Trung Tín phát sinh vướng mắc đối với chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu như sau: Qua kiểm tra các Giấy báo có do Công ty TNHH SXTM Trung Tín cung cấp kê khai nhận tiền thanh toán hàng hóa xuất khẩu thì nội dung thanh toán ghi trên các giấy báo có thể hiện tên doanh nghiệp nhập khẩu Campuchia thanh toán tiền hàng đúng tên ghi trên hợp đồng xuất khẩu nhưng không phản ánh số tài khoản của doanh nghiệp Campuchia và nơi mở tài khoản ngân hàng ở Campuchia để chuyển tiền thanh toán, việc chuyển tiền xuất phát từ ngân hàng ở Hàn Quốc. Kiểm tra nội dung quy định về điều khoản thanh toán trên hợp đồng xuất khẩu của Công ty TNHH SXTM Trung Tín ký với doanh nghiệp Campuchia và văn bản giải trình thì Công ty TNHH SXTM Trung Tín không giải trình được hình thức thanh toán ghi trên các giấy báo có nêu trên, Cục Thuế An Giang đã đề nghị Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh TPHCM (nơi nhận tiền thanh toán từ ngân hàng ở Hàn Quốc) xác minh nguồn gốc về nhận thanh toán tiền hàng hóa xuất khẩu của Công ty TNHH SXTM Trung Tín thì được phúc đáp là: Nhận điện gốc chuyển tiền từ Ngân hàng Hàn Quốc và không thể hiện số tài khoản của người chuyển.
Căn cứ quy định trên, Tổng cục Thuế nhất trí với đề xuất của Cục Thuế tỉnh An Giang nêu tại công văn số 259/CT-KTTr2 ngày 25/02/2014 như sau: Chứng từ thanh toán hàng hóa xuất khẩu không phản ánh cụ thể nội dung việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng thì không đủ điều kiện xem xét giải quyết hoàn thuế GTGT theo quy định tại Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh An Giang được biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn 1762/TCT-CS năm 2014 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 2 Công văn 1861/TCT-CS năm 2014 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 3 Công văn 1937/TCT-KK năm 2014 về hoàn thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 4 Công văn 355/TCT-CS năm 2014 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 5 Công văn 3949/TCT-CS năm 2014 khấu trừ thuế giá trị gia tăng thanh toán trực tiếp cho bên thứ ba do Tổng cục Thuế ban hành
- 6 Công văn 10243/CT-TTHT năm 2014 về thanh toán qua ngân hàng đối với dịch vụ xuất khẩu do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- 7 Công văn 834/TCT-KK năm 2015 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 8 Công văn 1300/TCT-KK năm 2019 về chứng từ thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu do Tổng Cục Thuế ban hành
- 1 Thông tư 06/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định 123/2008/NĐ-CP và 121/2011/NĐ-CP do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 1762/TCT-CS năm 2014 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 3 Công văn 1861/TCT-CS năm 2014 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 4 Công văn 1937/TCT-KK năm 2014 về hoàn thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 5 Công văn 355/TCT-CS năm 2014 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 6 Công văn 3949/TCT-CS năm 2014 khấu trừ thuế giá trị gia tăng thanh toán trực tiếp cho bên thứ ba do Tổng cục Thuế ban hành
- 7 Công văn 10243/CT-TTHT năm 2014 về thanh toán qua ngân hàng đối với dịch vụ xuất khẩu do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- 8 Công văn 834/TCT-KK năm 2015 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 9 Công văn 1300/TCT-KK năm 2019 về chứng từ thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu do Tổng Cục Thuế ban hành