Tóm tắt Công văn 5224/TCT-CS năm 2014 về vướng mắc xác định thuế suất thuế tài nguyên
Công văn 5224/TCT-CS được Tổng cục Thuế ban hành nhằm giải quyết các vướng mắc thực tế của Cục Thuế địa phương và các doanh nghiệp liên quan đến việc xác định thuế suất thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản kim loại, đặc biệt là quặng đồng và tinh quặng đồng. Văn bản này đưa ra các hướng dẫn quan trọng dựa trên Luật Thuế tài nguyên và các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật thuế trên toàn quốc.
Căn cứ pháp lý cốt lõi được áp dụng
Để giải quyết vướng mắc, Tổng cục Thuế đã căn cứ vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế tài nguyên tại thời điểm đó, bao gồm:
- Luật Thuế tài nguyên quy định về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế và biểu khung thuế suất thuế tài nguyên.
- Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Biểu thuế suất thuế tài nguyên, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2014.
- Thông tư số 105/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Nội dung hướng dẫn chi tiết về xác định thuế suất thuế tài nguyên
Tổng cục Thuế đã làm rõ nguyên tắc xác định đối tượng chịu thuế và áp dụng mức thuế suất thuế tài nguyên đối với sản phẩm quặng kim loại như sau:
- Nguyên tắc xác định tên tài nguyên tính thuế: Tài nguyên thiên nhiên khai thác phải được xác định đúng tên, nhóm, loại tài nguyên quy định tại Biểu thuế suất thuế tài nguyên để áp dụng mức thuế suất tương ứng. Trường hợp doanh nghiệp khai thác quặng đồng (khoáng sản kim loại) thì đối tượng chịu thuế tài nguyên là quặng đồng nguyên khai.
- Áp dụng thuế suất đối với quặng đồng: Theo quy định tại Biểu thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13, nhóm khoáng sản kim loại có quy định chi tiết mức thuế suất đối với "Đồng" (quặng đồng) là 10%. Mức thuế suất này được áp dụng thống nhất cho hoạt động khai thác quặng đồng kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực (01/02/2014).
- Phân biệt giữa quặng nguyên khai và sản phẩm sau chế biến: Công văn làm rõ việc xác định thuế suất phải căn cứ vào trạng thái của tài nguyên tại thời điểm khai thác. Đối với doanh nghiệp khai thác quặng đồng, sau đó thực hiện tuyển khoáng, chế biến thành tinh quặng đồng để bán hoặc xuất khẩu, thì việc tính thuế tài nguyên vẫn phải dựa trên sản lượng quặng nguyên khai khai thác được và áp dụng thuế suất của quặng đồng (10%), trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về quy đổi sản lượng hoặc giá tính thuế đối với sản phẩm chế biến sâu.
Hướng dẫn về giá tính thuế tài nguyên trong trường hợp chế biến
Bên cạnh thuế suất, Công văn cũng gián tiếp làm rõ mối liên hệ giữa thuế suất và giá tính thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại qua các giai đoạn chế biến:
- Trường hợp doanh nghiệp khai thác tài nguyên nhưng không bán ra ngay mà đưa vào sản xuất, chế biến sâu (như từ quặng đồng nghèo chế biến thành tinh quặng đồng có hàm lượng cao), giá tính thuế tài nguyên được xác định là giá bán sản phẩm sau chế biến trừ đi các chi phí chế biến phát sinh thực tế theo quy định của Bộ Tài chính, nhưng không được thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
- Việc khấu trừ chi phí chế biến nhằm đảm bảo tính công bằng, tránh việc đánh thuế trùng lên phần giá trị gia tăng do hoạt động chế biến công nghiệp tạo ra, đồng thời bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước đối với phần giá trị tài nguyên thiên nhiên thực tế bị khai thác.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện của cơ quan thuế địa phương
Tổng cục Thuế yêu cầu Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Chủ động rà soát, hướng dẫn các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn thực hiện kê khai, nộp thuế tài nguyên đúng quy định tại Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản kim loại nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi kê khai sai tên tài nguyên, áp dụng sai thuế suất hoặc xác định giá tính thuế tài nguyên không đúng quy định pháp luật.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tại địa phương (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính) để quản lý chặt chẽ sản lượng khai thác thực tế của các mỏ khoáng sản, tránh thất thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5224/TCT-CS | Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2014 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên
Trả lời Công văn số 1748/CT-KTT ngày 9/10/2014 của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên về thuế suất thuế tài nguyên đối với đá cát kết, bột kết của Công ty TNHH Bình Dương, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Tài nguyên:
“1. Mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên thực hiện theo Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.”
- Tại Biểu mức thuế suất thuế Tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì các thuế suất đối với khai thác tài nguyên đất quy định như sau:
“Đá, sỏi: 7%
Đá nung vôi và sản xuất xi măng: 7%
Đá hoa trắng: 9%
Khoáng sản không kim loại khác: 5%.”
- Tại Điều 1, Quyết định số 2156/QĐ-UBND ngày 20/9/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt trừ lượng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, mỏ đá cát, bột kết Na Lay, xã Quang Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên của Công ty TNHH Bình Dương:
“Điều 1. Phê duyệt trữ lượng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, mỏ đá cát, bột kết Na Lay, xã Quang Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.”
Căn cứ quy định và hồ sơ thực tế nêu trên, đá cát, bột kết khai thác từ mỏ đá cát, bột kết Na Lay là một loại đá nên được áp dụng mức thuế suất thuế Tài nguyên 7% theo quy định tại Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nêu trên.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn 3929/VPCP-KTTH về xác định mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động khai thác tài nguyên quý hiếm do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2 Công văn 7393/VPCP-KTTH về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khai thác tài nguyên quý hiếm do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3 Công văn 1134/TCT-CS năm 2014 áp dụng thuế suất thuế tài nguyên do Tổng cục Thuế ban hành
- 4 Công văn 12869/BTC-CST năm 2014 về thuế suất thuế tài nguyên đối với gỗ rừng tự nhiên do Bộ Tài chính ban hành
- 5 Công văn 5463/TCT-CS năm 2014 vướng mắc về xác định thuế suất thuế tài nguyên do Tổng cục Thuế ban hành
- 6 Công văn 2145/TCT-DNL năm 2015 vướng mắc về thuế suất của Ban điều hành dự án thủy điện Pleikrong do Tổng cục Thuế ban hành
- 7 Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13 về Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 1 Nghị định 50/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế tài nguyên 2009
- 2 Công văn 3929/VPCP-KTTH về xác định mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động khai thác tài nguyên quý hiếm do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3 Công văn 7393/VPCP-KTTH về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khai thác tài nguyên quý hiếm do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 4 Nghị quyết 712/2013/UBTVQH13 về biểu mức thuế suất thuế tài nguyên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 5 Công văn 1134/TCT-CS năm 2014 áp dụng thuế suất thuế tài nguyên do Tổng cục Thuế ban hành
- 6 Công văn 12869/BTC-CST năm 2014 về thuế suất thuế tài nguyên đối với gỗ rừng tự nhiên do Bộ Tài chính ban hành
- 7 Công văn 5463/TCT-CS năm 2014 vướng mắc về xác định thuế suất thuế tài nguyên do Tổng cục Thuế ban hành
- 8 Công văn 2145/TCT-DNL năm 2015 vướng mắc về thuế suất của Ban điều hành dự án thủy điện Pleikrong do Tổng cục Thuế ban hành
- 9 Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13 về Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành