Tóm tắt Công văn số 2293/BCT-CNN về phân loại và áp mã thuế suất đối với mặt hàng dầu cọ nhập khẩu
Công văn số 2293/BCT-CNN do Bộ Công thương ban hành là văn bản quan trọng nhằm hướng dẫn, làm rõ các quy định về phân loại hàng hóa và áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với mặt hàng dầu cọ nhập khẩu phục vụ mục đích tinh luyện thành dầu ăn tại Việt Nam. Dưới đây là nội dung tóm tắt chi tiết và phân tích chuyên sâu về các chính sách cốt lõi được đề cập trong văn bản này.
1. Mục đích ban hành và phạm vi áp dụng
Công văn hướng tới việc giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thông quan, phân loại mã HS và áp thuế đối với mặt hàng dầu cọ nhập khẩu. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm các doanh nghiệp nhập khẩu dầu cọ để sản xuất, tinh luyện dầu ăn và các cơ quan hải quan, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
2. Nguyên tắc phân loại và áp mã HS đối với dầu cọ nhập khẩu
Văn bản nhấn mạnh việc phân loại mã HS đối với mặt hàng dầu cọ phải căn cứ vào tính chất lý hóa, mức độ chế biến của sản phẩm tại thời điểm nhập khẩu:
- Dầu cọ thô (Crude Palm Oil): Được phân loại vào nhóm mã HS phù hợp với đặc tính chưa qua tinh luyện hóa học hoặc vật lý sâu, thường áp dụng cho nguyên liệu đầu vào phục vụ quá trình sản xuất công nghiệp hoặc tinh luyện tiếp theo.
- Dầu cọ đã qua phân đoạn hoặc tinh luyện một phần: Cần được xác định rõ ràng dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia và quốc tế để áp mã HS chính xác, tránh việc gian lận thương mại bằng cách khai sai chủng loại để hưởng thuế suất thấp.
- Sự thống nhất trong áp mã: Bộ Công thương phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) để đảm bảo tính đồng nhất trong việc áp mã HS trên toàn quốc, hạn chế tối đa sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các chi cục hải quan địa phương.
3. Chính sách thuế suất và điều kiện áp dụng ưu đãi
Chính sách thuế đối với dầu cọ nhập khẩu để tinh luyện thành dầu ăn được thiết kế nhằm bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước đồng thời đảm bảo nguồn cung nguyên liệu ổn định:
- Thuế suất ưu đãi: Doanh nghiệp nhập khẩu dầu cọ làm nguyên liệu đầu vào để tinh luyện thành dầu ăn có thể được hưởng các mức thuế suất ưu đãi theo các cam kết quốc tế (như FTA) hoặc biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hiện hành, với điều kiện đáp ứng đầy đủ hồ sơ chứng minh mục đích sử dụng.
- Điều kiện về cơ sở vật chất và năng lực sản xuất: Doanh nghiệp phải chứng minh được năng lực tinh luyện thực tế thông qua hệ thống nhà xưởng, máy móc thiết bị phù hợp với quy trình tinh luyện dầu ăn được cơ quan chức năng kiểm tra và xác nhận.
- Cam kết sử dụng đúng mục đích: Doanh nghiệp nhập khẩu phải có văn bản cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc sử dụng toàn bộ lượng dầu cọ nhập khẩu đúng mục đích tinh luyện thành dầu ăn, không được tự ý chuyển nhượng hoặc sử dụng vào mục đích khác khi chưa được phép.
4. Công tác quản lý, giám sát và phối hợp liên ngành
Để đảm bảo hiệu quả thực thi, Công văn 2293/BCT-CNN đưa ra các định hướng phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý:
- Kiểm tra sau thông quan: Cơ quan Hải quan tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan đối với các lô hàng dầu cọ nhập khẩu được áp thuế suất ưu đãi nhằm phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp khai sai mã HS hoặc sử dụng sai mục đích cam kết.
- Phối hợp thông tin: Bộ Công thương và Bộ Tài chính thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình nhập khẩu, nhu cầu tiêu thụ và năng lực sản xuất của các nhà máy tinh luyện trong nước để kịp thời điều chỉnh chính sách thuế và hạn ngạch (nếu có) một cách linh hoạt.
5. Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp nhập khẩu
Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu và chế biến dầu cọ cần lưu ý các điểm sau để đảm bảo tuân thủ pháp luật và tối ưu hóa chi phí:
- Chủ động tìm hiểu và cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn quốc gia về dầu cọ và các sản phẩm từ dầu cọ để khai báo hải quan chính xác.
- Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ (C/O), chứng nhận chất lượng (C/Q) và các tài liệu kỹ thuật liên quan đến lô hàng nhập khẩu.
- Xây dựng quy trình theo dõi, quản lý định mức sử dụng nguyên liệu rõ ràng để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước khi có yêu cầu.
| BỘ CÔNG THƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2293/BCT-CNN | Hà Nội, ngày 24 tháng 3 năm 2008 |
Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ
Ngày 11 tháng 3 năm 2008, Công ty Dầu Thực Vật - Hương liệu - Mỹ phẩm Việt Nam (Vocarimex) đã có công văn số 375/DHM-TCKT giải trình và đề nghị Bộ Công Thương có ý kiến đối với các cơ quan chức năng về kết luận của Thanh tra Chính phủ liên quan đến việc nhập khẩu mặt hàng dầu cọ của Công ty Vocarimex vào cuối năm 2005. Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ thì "Viện nghiên cứu Dầu Thực vật - Hương liệu - Mỹ phẩm Việt Nam không có chức năng giám định hàng hoá phục vụ công tác quản lý Nhà nước. Nhưng kết quả của Viện nghiên cứu Dầu Thực vật - Hương liệu - Mỹ phẩm Việt Nam vẫn được Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh sử dụng để phân loại mặt hàng dầu cọ vào mã 1511.10.00 thuế suất ưu đãi 5% cho Công ty Vocarimex là không phù hợp với quy định của Nhà nước, làm giảm số tiền thuế là 31.619,9 triệu đồng so với áp mã có thuế suất 30%.
Kiến nghị xử lý: kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xem xét đề xuất biện pháp xử lý số chênh lệch tiền thuế 31.619,9 triệu đồng do việc phân loại áp mã mặt hàng dầu cọ như đã nêu trong kết luận này”.
Bộ Công Thương xin báo cáo Thủ tướng về vấn đề này như sau:
1. Việc xác định mã số thuế nhập khẩu đối với mặt hàng dầu cọ thô nhập khẩu
Mặt hàng dầu cọ thô là nguyên liệu chính của ngành Dầu Thực vật được nhập khẩu để tinh luyện thành sản phẩm dầu ăn tiêu thụ trong nước. Trong quá trình sản xuất dầu cọ thô được phân đoạn thành 2 loại là dầu cọ Olein thô (ở dạng lỏng) và dầu cọ Stearin thô (ở dạng đặc). Các loại dầu cọ Olein và Stearin thô này phải qua chế biến tinh luyện (trung hoà, tẩy màu, khử mùi) thì mới đạt tiêu chuẩn là dầu ăn cho người.
Đối chiếu với chi tiết Danh mục HS và chú giải bổ sung của Danh mục AHTN thì dầu cọ nhập khẩu của Công ty Vocarimex và các đơn vị khác trong ngành dầu thực vật thuộc phân loại 1511.10.00, bao gồm dầu cọ Stearin và dầu cọ Olein ở dạng phân đoạn.
Từ năm 1993 cho đến tháng 7 năm 2003, trong biểu thuế xuất nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành thì hai loại dầu cọ thô là dầu cọ Olein và dầu cọ Stearin nhập khẩu được ghi thành 02 dòng và đều được áp mã số thuế 1511.10.00 với mức thuế suất của dầu cọ thô là 5%.
Tuy nhiên, tại biểu thuế nhập khẩu ưu đãi do Bộ Tài chính ban hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2003 thì đối với dầu cọ thô chỉ còn ghi chung một dòng là nhóm dầu thô (MST 1511.10.00) với mức thuế suất 5% mà không có dòng thuế cho "các phân đoạn của dầu cọ", trong khi tất cả các loại dầu khác đều có dòng thuế này. Do vậy, đã gây nên vướng mắc trong việc phân loại áp mã thuế suất đối với dầu cọ Stearin và dầu cọ Olein ở dạng phân đoạn khi nhập khẩu. Chính vì vậy, nên sau khi thanh tra Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh tra Chính phủ kiến nghị phân loại, áp thuế suất 30% và truy thu 31.619,9 triệu đồng như đã nêu ở trên. Việc áp dụng này không phù hợp với chú giải của Danh mục HS, chú giải bổ sung của AHTN - các Công ước quốc tế mà Việt Nam là Thành viên và áp thuế suất dầu cọ thô như dầu đã tinh chế là hoàn toàn không hợp lý, không khuyến khích sản xuất.
Căn cứ tình hình thực tế, Công ước quốc tế mà Việt Nam là Thành viên và kiến nghị của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương), Bộ Tài chính đã có Công văn số 32/BTC-CST ngày 03 tháng 01 năm 2006 xác nhận việc phân loại và áp mã thuế suất đối với hai loại dầu cọ Stearin và Olein ở dạng phân đoạn tiếp theo ngày 28 tháng 7 năm 2006 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi (Quyết định số 39/2006/QĐ-BTC), theo đó dầu cọ Stearin và dầu cọ Olein ở dạng phân đoạn khi nhập khẩu có mức thuế suất là 5%.
Như vậy, dầu cọ do Công ty Vocarimex nhập khẩu để làm nguyên liệu cho sản xuất dầu ăn là dầu cọ thô và các phân đoạn bao gồm 2 loại là dầu cọ Olein và dầu cọ Stearin có mức thuế suất 5% là đúng theo quy định tại biểu thuế xuất nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành từ năm 1993 cho đến tháng 7 năm 2003, Công văn số 32/BTC-CST ngày 03 tháng 01 năm 2006 và Biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Quyết định số 39/2006/QĐ-BTC ngày 28 tháng 7 năm 2006 của Bộ Tài chính.
2. Việc sử dụng kết quả phân tích của Viện nghiên cứu Dầu Thực vật - Tinh dầu - Hương liệu - Mỹ phẩm
Viện nghiên cứu Dầu Thực vật - Tinh dầu- Hương liệu - Mỹ phẩm (nay là Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu) là Viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc Bộ Công Thương, có nhiệm vụ phân tích, kiểm tra chất lượng nguyên liệu, sản phẩm của ngành dầu thực vật (Quy định tại Quyết định số 67/2004/QĐ-BCN của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Viện nghiên cứu Dầu Thực vật - Tinh dầu - Hương liệu - Mỹ phẩm).
Tại Quyết định số 02/2002/QĐ-BKHCN ngày 25 tháng 10 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc loại bỏ mặt hàng Dầu thô thực vật ra khỏi Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu phải kiểm tra Nhà nước về chất lượng, ghi rõ "Không kiểm tra Nhà nước về chất lượng đối với Dầu thô thực vật nhập khẩu". Do đó, việc cơ quan Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng kết quả phân tích của Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu - Viện nghiên cứu chuyên ngành có chức năng nghiên cứu, phân tích các loại dầu ăn làm cơ sở để phân loại mặt hàng dầu cọ thô của Công ty Vocarimex nhập khẩu là hợp lý và đảm bảo được tính chính xác.
Vì vậy, Bộ Công Thương kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan chức năng:
- Xem xét, xử lý dứt điểm và có kết luận về những vấn đề liên quan đến việc nhập khẩu mặt hàng dầu cọ của Công ty Vocarimex nhằm tạo điều kiện cho Công ty sản xuất và phát triển ổn định.
- Không truy thu số tiền thuế chênh lệch 31.619,9 triệu đồng do việc phân loại, áp mã thuế suất đối với mặt hàng dầu cọ thô như dầu đã tinh chế./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1 Quyết định 39/2006/QĐ-BTC ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Quyết định 02/2002/QĐ-BKHCN loại bỏ mặt hàng dầu thô thực vật ra khỏi Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu phải kiểm tra nhà nước về chất lượng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ ban hành
- 3 Quyết định 67/2004/QĐ-BCN phê duyệt Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Viện Nghiên cứu Dầu thực vật - Tinh dầu - Hương liệu - Mỹ phẩm do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 1 Công văn 4546/TCHQ-TXNK năm 2015 về việc phân loại, thuế suất đối với mặt hàng ô tô đầu kéo do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2 Công văn 1757/XNK-TMQT năm 2017 về nhập khẩu tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử do Cục Xuất nhập khẩu ban hành
- 3 Công văn 360/XNK-TMQT năm 2017 về nhập khẩu tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử do Cục Xuất nhập khẩu ban hành
- 4 Công văn 5267/TCHQ-TXNK năm 2018 về phân loại, áp mã mặt hàng “Cần trục bánh lốp” do Tổng cục Hải quan ban hành
- 1 Quyết định 39/2006/QĐ-BTC ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Quyết định 02/2002/QĐ-BKHCN loại bỏ mặt hàng dầu thô thực vật ra khỏi Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu phải kiểm tra nhà nước về chất lượng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ ban hành
- 3 Quyết định 67/2004/QĐ-BCN phê duyệt Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Viện Nghiên cứu Dầu thực vật - Tinh dầu - Hương liệu - Mỹ phẩm do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 4 Công văn số 32/BTC-CST về việc phân loại để xác định mã số hàng hoá đối với mặt hàng dầu cọ do Bộ Tài chính ban hành
- 5 Công văn 4546/TCHQ-TXNK năm 2015 về việc phân loại, thuế suất đối với mặt hàng ô tô đầu kéo do Tổng cục Hải quan ban hành
- 6 Công văn 1757/XNK-TMQT năm 2017 về nhập khẩu tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử do Cục Xuất nhập khẩu ban hành
- 7 Công văn 360/XNK-TMQT năm 2017 về nhập khẩu tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử do Cục Xuất nhập khẩu ban hành
- 8 Công văn 5267/TCHQ-TXNK năm 2018 về phân loại, áp mã mặt hàng “Cần trục bánh lốp” do Tổng cục Hải quan ban hành