Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Khuyến nghị năm 1965

Khuyến nghị về đồng ý kết hôn, độ tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 01 tháng 11 năm 1965 theo Nghị quyết số 2018 (XX). Đây là một văn kiện pháp lý quốc tế mang tính định hướng quan trọng nhằm bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, thúc đẩy bình đẳng giới và xóa bỏ các hủ tục lạc hậu ảnh hưởng đến quyền tự quyết của cá nhân.

Phần mở đầu: Bối cảnh và mục tiêu của Khuyến nghị

Phần mở đầu của Khuyến nghị khẳng định các nguyên tắc nền tảng về quyền con người được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948. Các nội dung cốt lõi bao gồm:

  • Tôn trọng nhân phẩm và quyền bình đẳng: Khẳng định mọi người sinh ra đều có quyền tự do, bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi, không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.
  • Quyền tự do kết hôn: Nhắc lại Điều 16 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, nhấn mạnh nam và nữ đến tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào. Hôn nhân chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên.
  • Xóa bỏ các tập tục lạc hậu: Thừa nhận rằng tại một số khu vực trên thế giới, các phong tục, tập quán và luật lệ cổ xưa liên quan đến hôn nhân và gia đình vẫn tồn tại, cản trở quyền tự do lựa chọn của cá nhân. Do đó, cần có các biện pháp quốc gia và quốc tế để xóa bỏ triệt để các rào cản này.

Điều 1 (Nguyên tắc 1): Sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện kết hôn

Điều khoản này thiết lập nguyên tắc cốt lõi về sự đồng thuận trong hôn nhân, cụ thể:

  • Sự đồng ý trực tiếp: Không một cuộc hôn nhân nào được coi là hợp pháp nếu thiếu đi sự đồng ý hoàn toàn và tự do của cả hai bên nam nữ. Sự đồng ý này phải được thể hiện trực tiếp bởi chính các bên tham gia.
  • Thủ tục công khai: Việc bày tỏ sự đồng ý phải được thực hiện một cách công khai, trước sự chứng kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn và các nhân chứng, theo đúng quy định của pháp luật.
  • Trường hợp ngoại lệ (Kết hôn ủy quyền): Khuyến nghị cho phép việc kết hôn thông qua người đại diện (ủy quyền) chỉ trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, khi cơ quan có thẩm quyền đã xác minh rõ ràng rằng bên vắng mặt thực sự đồng ý một cách tự nguyện và tự do trước sự chứng kiến của cơ quan có thẩm quyền và nhân chứng.

Điều 2 (Nguyên tắc 2): Quy định về độ tuổi kết hôn tối thiểu

Nhằm bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên khỏi nạn tảo hôn, Điều 2 quy định:

  • Nghĩa vụ lập pháp của các quốc gia: Các quốc gia thành viên phải ban hành các văn bản pháp luật quy định rõ ràng về độ tuổi kết hôn tối thiểu. Không một cuộc hôn nhân nào được phép diễn ra nếu một hoặc cả hai bên chưa đạt đến độ tuổi tối thiểu này.
  • Cơ chế miễn trừ đặc biệt: Việc miễn trừ áp dụng độ tuổi tối thiểu chỉ được phép thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền (như tòa án hoặc cơ quan tư pháp) vì những lý do đặc biệt nghiêm trọng và vì lợi ích tốt nhất của các bên liên quan.

Điều 3 (Nguyên tắc 3): Bắt buộc đăng ký kết hôn

Để đảm bảo tính pháp lý và bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ hôn nhân, Điều 3 yêu cầu:

  • Đăng ký vào sổ hộ tịch chính thức: Tất cả các cuộc hôn nhân phải được đăng ký bởi cơ quan có thẩm quyền vào một sổ đăng ký chính thức (sổ hộ tịch).
  • Vai trò của việc đăng ký: Việc đăng ký kết hôn không chỉ là thủ tục hành chính mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định tình trạng hôn nhân, bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng và con cái, đồng thời ngăn ngừa tình trạng đa thê hoặc kết hôn bất hợp pháp.

Điều 4 (Nguyên tắc 4): Cơ chế báo cáo và giám sát thực thi

Điều 4 tập trung vào trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc hiện thực hóa các nguyên tắc của Khuyến nghị:

  • Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền: Các quốc gia thành viên có trách nhiệm trình Khuyến nghị này trước các cơ quan lập pháp hoặc cơ quan có thẩm quyền trong nước để ban hành luật hoặc thực hiện các biện pháp phù hợp khác nhằm cụ thể hóa các nguyên tắc nêu trên.
  • Báo cáo định kỳ: Các quốc gia cần gửi báo cáo định kỳ cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc về các biện pháp lập pháp, hành chính hoặc các biện pháp khác đã được áp dụng để thực hiện các nguyên tắc của Khuyến nghị, cũng như nêu rõ những tiến bộ đạt được và các khó khăn gặp phải trong quá trình thực thi.

KHUYẾN NGHỊ

VỀ ĐỒNG Ý KẾT HÔN, ĐỘ TUỔI KẾT HÔN TỐI THIỂU VÀ VIỆC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN, 1965

(Nghị quyết 2018 (XX) của Đại Hội đồng ngày 1/11/1965).

Đại Hội đồng,

Nhận thấy tổ chức gia đình cần được củng cố vì gia đình là tế bào của xã hội, và rằng nam giới và nữ giới khi đủ tuổi thì có quyền kết hôn và lập nên một gia đình, rằng họ có quyền như nhau đối với hôn nhân và rằng hôn nhân chỉ có thể diễn ra trên cơ sở đồng thuận hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên, phù hợp với Điều 16 của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền,

Chiếu theo nghị quyết số 843 (IX) ngày 17/12/1954 của Đại Hội đồng,

Nhớ thêm Điều 2 của Công ước bổ sung về Bãi bỏ nô lệ, buôn bán nô lệ, và Các thể chế và thông lệ tương tự như Chế độ nô lệ năm 1956, mà có một số điều khoản liên quan tới độ tuổi kết hôn, đồng ý kết hôn và đăng ký kết hôn,

Xét thấy Điều 13, đoạn 1 b, của Hiến chương Liên Hợp Quốc có nói rằng Đại Hội đồng sẽ đưa ra khuyến nghị vì mục đích hỗ trợ hiện thực hóa nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo,

Xét thấy cũng tương tự như vậy, theo Điều 64 của Hiến chương, Ủy ban Kinh tế và xã hội có quyền thu xếp với các thành viên Liên Hợp Quốc để lấy báo cáo về các bước đã tiến hành để làm cho khuyến nghị của ủy ban có hiệu lực, cũng như là cho những kiến nghị về các vấn đề khác nằm trong thẩm quyền của nó do Đại Hội đồng xác lập,

Kiến nghị rằng, mỗi quốc gia cần tiến hành những bước cần thiết, phù hợp với tiến trình hiến pháp cũng như thói quen truyền thống và tôn giáo của mình, để thông qua những biện pháp lập pháp hay những biện pháp khác mà có thể phù hợp, nếu chưa tồn tại một biện pháp nào như thế, để làm cho những nguyên tắc dưới đây có hiệu lực:

Nguyên tắc 1.

1. Không hôn nhân nào có thể có hiệu lực mà không có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên, sự đồng ý đó phải được cá nhân mỗi bên tự biểu đạt, sau khi đã công bố trong một khoảng thời gian phù hợp, dưới sự có mặt của cơ quan có thẩm quyền tuyên bố hôn nhân và của người làm chứng, theo luật pháp quy định.

2. Kết hôn theo ủy quyền chỉ được phép khi các cơ quan có thẩm quyền thấy rằng mỗi bên, trước một cơ quan có thẩm quyền và theo cách mà luật pháp có thể miêu tả, đã thể hiện sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của mình trước các nhân chứng, và không hề rút lại sự đồng ý này.

Nguyên tắc 2.

Các nước thành viên phải quy định trong luật về độ tuổi kết hôn tối thiểu, mà trong bất cứ trường hợp nào cũng không thể dưới 15 tuổi; không hôn nhân nào là hợp pháp nếu người kết hôn nằm dưới độ tuổi này, ngoại trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền cho phép miễn trừ tuổi tác, vì những lý do đặc biệt, vì quyền lợi của hai bên mong muốn thành vợ chồng.

Nguyên tắc 3.

1. Mọi sự kết hôn đều phải đăng ký ở một cơ quan đăng ký phù hợp bởi người có thẩm quyền.

2. Đề nghị mỗi Quốc gia thành viên đưa bản Khuyến nghị về Đồng ý kết hôn, Độ tuổi kết hôn tối thiểu và Đăng ký kết hôn nằm trong nghị quyết này tới các cơ quan có thẩm quyền ban hành luật, hoặc tiến hành hành động khác vào thời điểm khả thi sớm nhất có thể, và nếu có thể, thì không muộn hơn 18 tháng sau khi bản Khuyến nghị này được thông qua;

3. Đề nghị mỗi Quốc gia thành viên phải thông báo lại cho Tổng Thư ký, ngay khi có thể, sau khi thực hiện hành động được nói tới trong đoạn văn số 2 phía trên, về các biện pháp đã tiến hành liên quan tới bản Khuyến nghị hiện thời để đưa nó ra trước cơ quan có thẩm quyền, với chi tiết cụ thể về (các) cơ quan được cho là có thẩm quyền đó;

4. Đề nghị thêm là các quốc gia thành phiên sau 3 năm cần báo cáo với Tổng Thư ký, và sau đó thì cứ 5 năm 1 lần, về luật pháp và thực tiễn áp dụng liên quan đến các vấn đề được đề cập tới trong bản Khuyến nghị này, thể hiện mức độ hiệu lực mà các quốc gia đã trao hay đề xuất trao cho các điều khoản trong bản Khuyến nghị và những sửa đổi (có thể) cần thiết trong việc điều chỉnh hay áp dụng nó;

5. Yêu cầu Tổng Thư ký chuẩn bị một văn bản chứa báo cáo về phương pháp thực hiện ba nguyên tắc cơ bản của bản Khuyến nghị hiện thời nhận được từ các chính phủ cho Ủy ban về Địa vị phụ nữ;

6. Mời Ủy ban về Địa vị phụ nữ thẩm tra báo cáo nhận được từ các Quốc gia thành viên dựa trên bản Khuyến nghị và trên cơ sở đó báo cáo lại cho Ủy ban Kinh tế và Xã hội và đưa ra kiến nghị phù hợp.

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Khuyến nghị về đồng ý kết hôn, độ tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn, 1965

Số hiệu: Khongso/2018/NQ
Loại văn bản: Văn bản khác
Ngày ban hành: 01/11/1965
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Khuyến nghị về đồng ý kết hôn, độ tuổi kết hô...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký