Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều quan trọng của Pháp lệnh cán bộ, công chức trước đó, thiết lập khung pháp lý toàn diện và đồng bộ hơn về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức tại Việt Nam. Văn bản này do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, được ký bởi Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2003.

Phạm vi và đối tượng áp dụng cán bộ, công chức

Pháp lệnh đã mở rộng và phân loại chi tiết các đối tượng được xác định là cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:

  • Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) và cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh).
  • Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội từ cấp huyện trở lên.
  • Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên.
  • Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
  • Thẩm phán Tòa án nhân dân và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
  • Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân (không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng) và thuộc Công an nhân dân (không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp).
  • Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cấp xã (xã, phường, thị trấn).
  • Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã.

Về nguồn chi trả lương, các đối tượng cán bộ, công chức nêu trên (trừ viên chức trong đơn vị sự nghiệp) được hưởng lương hoàn toàn từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, nguồn lương được bảo đảm từ ngân sách nhà nước kết hợp với các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.

Quy định áp dụng đối với các đối tượng đặc thù và chế độ công chức dự bị

  • Đối với người do bầu cử khác: Ủy ban thường vụ Quốc hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền quy định cụ thể việc áp dụng Pháp lệnh đối với những người do bầu cử không thuộc diện cán bộ cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã nêu trên.
  • Đối với lực lượng vũ trang và doanh nghiệp nhà nước: Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Pháp lệnh đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong Công an nhân dân; và các chức danh quản lý chủ chốt trong doanh nghiệp nhà nước bao gồm thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng và các cán bộ quản lý khác.
  • Đối với cán bộ, công chức cấp xã: Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết về chức danh, tiêu chuẩn, nghĩa vụ, quyền lợi, những việc không được làm cũng như các chế độ, chính sách khác dành riêng cho nhóm đối tượng này.
  • Chế độ công chức dự bị: Đây là chế độ mới được áp dụng đối với người được tuyển dụng vào làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên. Người được tuyển dụng làm công chức dự bị phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện pháp luật quy định. Chính phủ quy định cụ thể về chế độ tuyển dụng, sử dụng, nghĩa vụ, quyền lợi và các chính sách liên quan đến công chức dự bị.

Chính sách bố trí công tác và tuyển dụng cán bộ, công chức

  • Bố trí công tác sau bầu cử: Những người do bầu cử ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện khi thôi giữ chức vụ theo nhiệm kỳ sẽ được cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác mới phù hợp với năng lực, sở trường, ngành nghề chuyên môn, đồng thời được bảo đảm đầy đủ các chế độ, chính sách dành cho cán bộ, công chức.
  • Căn cứ tuyển dụng: Việc tuyển dụng cán bộ, công chức hành chính, tư pháp, lực lượng vũ trang và cấp xã phải căn cứ sát sao vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của chức danh và chỉ tiêu biên chế được giao. Đối với đơn vị sự nghiệp, việc tuyển dụng viên chức phải dựa trên nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế, nguồn tài chính của đơn vị và được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng làm việc. Người được tuyển dụng vào làm việc tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan nhà nước cấp huyện trở lên bắt buộc phải qua thực hiện chế độ công chức dự bị.
  • Yêu cầu và hình thức tuyển dụng: Người được tuyển dụng bắt buộc phải có phẩm chất đạo đức tốt, đủ tiêu chuẩn chuyên môn và phải thông qua con đường thi tuyển. Tuy nhiên, đối với các đơn vị sự nghiệp, khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là người dân tộc ít người, cơ quan quản lý có thể thực hiện tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển.

Chế độ thôi việc của cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức (trừ nhóm do bầu cử) được giải quyết thôi việc và hưởng các chế độ, chính sách thôi việc do Chính phủ quy định trong hai trường hợp cụ thể: do yêu cầu sắp xếp lại tổ chức, giảm biên chế theo quyết định của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền; hoặc do cá nhân có nguyện vọng thôi việc và được cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý đồng ý bằng văn bản.

Nội dung và phân cấp quản lý nhà nước về cán bộ, công chức

Pháp lệnh quy định rõ 11 nội dung cốt lõi trong công tác quản lý cán bộ, công chức, bao gồm:

  • Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, điều lệ, quy chế về cán bộ, công chức.
  • Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.
  • Quy định chức danh và tiêu chuẩn cán bộ, công chức.
  • Quyết định biên chế cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước ở trung ương; quy định định mức biên chế hành chính, sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân; hướng dẫn định mức biên chế trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước ở trung ương.
  • Tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng và phân cấp quản lý cán bộ, công chức.
  • Ban hành quy chế tuyển dụng, nâng ngạch; chế độ tập sự, thử việc.
  • Đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ, công chức.
  • Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức.
  • Thực hiện việc thống kê cán bộ, công chức.
  • Thanh tra, kiểm tra việc thi hành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
  • Chỉ đạo, tổ chức giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, công chức.

Về thẩm quyền quản lý, Chính phủ thống nhất quản lý và quyết định biên chế cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương; quy định định mức biên chế hành chính, sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân; hướng dẫn định mức biên chế trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước ở trung ương. Bộ Nội vụ đóng vai trò là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ quản lý này. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý trực tiếp đội ngũ cán bộ, công chức theo sự phân cấp của Chính phủ và quy định của pháp luật.

Chế độ khen thưởng, kỷ luật và giải quyết khiếu nại, khởi kiện

  • Chế độ nâng lương trước thời hạn: Cán bộ, công chức (trừ nhóm bầu cử) nếu lập thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ sẽ được xem xét nâng ngạch hoặc nâng bậc lương trước thời hạn theo quy định chi tiết của Chính phủ.
  • Các hình thức kỷ luật: Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ phải chịu một trong các hình thức kỷ luật bao gồm: Khiển trách, Cảnh cáo, Hạ bậc lương, Hạ ngạch, Cách chức, hoặc Buộc thôi việc. Thẩm quyền xử lý kỷ luật thuộc về cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức đó. Riêng đối với cán bộ do bầu cử ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, việc bãi nhiệm hoặc kỷ luật được thực hiện theo quy định riêng của pháp luật và điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội liên quan.
  • Hệ quả của việc bị kỷ luật: Cán bộ, công chức bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức sẽ bị kéo dài thời gian nâng bậc lương thêm một năm. Đồng thời, trong thời gian ít nhất một năm kể từ ngày có quyết định kỷ luật, người bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức sẽ không được xem xét bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn.
  • Quyền khiếu nại và khởi kiện: Cán bộ, công chức bị xử lý kỷ luật có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Đặc biệt, đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống khi bị áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện

Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2003. Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này trên phạm vi cả nước. Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội căn cứ vào các nội dung của Pháp lệnh để ban hành quy định cụ thể áp dụng đối với đội ngũ cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình.

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 11/2003/PL-UBTVQH11

Hà Nội, ngày 29 tháng 4 năm 2003

PHÁP LỆNH

CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 11/2003/PL-UBTVQH11 NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 2003 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀUCỦA PHÁP LỆNH CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Căn cứ vào Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI (2002- 2007) và năm 2003;
Pháp lệnh này sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 02 năm 1998.

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức:

1- Điều 1 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 1

1. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:

a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;

e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);

h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.

2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và h khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật."

2- Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 5

1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể việc áp dụng Pháp lệnh này đối với những người do bầu cử không thuộc đối tượng quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này.

2. Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Pháp lệnh này đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong các doanh nghiệp nhà nước."

3- Bổ sung Điều 5a sau Điều 5 như sau:

Điều 5a

Chính phủ quy định chức danh, tiêu chuẩn, nghĩa vụ, quyền lợi, những việc không được làm và chế độ, chính sách khác đối với cán bộ, công chức cấp xã quy định tại điểm g và điểm h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này."

4- Bổ sung Điều 5b sau Điều 5a như sau:

Điều 5b

1. Chế độ công chức dự bị được áp dụng trong cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này. Người được tuyển dụng làm công chức dự bị phải có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật.

2. Căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh này, Chính phủ quy định chế độ tuyển dụng, sử dụng, nghĩa vụ, quyền lợi, những việc không được làm và chế độ, chính sách khác đối với công chức dự bị."

5- Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 22

Những người do bầu cử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này khi thôi giữ chức vụ thì được bố trí công tác theo năng lực, sở trường, ngành nghề chuyên môn của mình và được bảo đảm các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức."

6- Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 23

1. Khi tuyển dụng cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này, cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của chức danh cán bộ, công chức và chỉ tiêu biên chế được giao.

2. Khi tuyển dụng cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này, đơn vị sự nghiệp phải căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế và nguồn tài chính của đơn vị. Việc tuyển dụng được thực hiện theo hình thức hợp đồng làm việc.

3. Người được tuyển dụng làm cán bộ, công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này phải qua thực hiện chế độ công chức dự bị.

4. Người được tuyển dụng phải có phẩm chất đạo đức, đủ tiêu chuẩn và thông qua thi tuyển; đối với việc tuyển dụng ở các đơn vị sự nghiệp, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc để đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở vùng dân tộc ít người thì có thể thực hiện thông qua xét tuyển.

Chính phủ quy định cụ thể chế độ thi tuyển và xét tuyển."

7- Khoản 1 Điều 32 được sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này được thôi việc và hưởng chế độ thôi việc trong các trường hợp sau đây:

a) Do sắp xếp tổ chức, giảm biên chế theo quyết định của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền;

b) Có nguyện vọng thôi việc và được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý.

Chính phủ quy định chế độ, chính sách thôi việc đối với các trường hợp quy định tại khoản này."

8- Điều 33 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 33

Nội dung quản lý về cán bộ, công chức bao gồm:

1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, điều lệ, quy chế về cán bộ, công chức;

2. Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức;

3. Quy định chức danh và tiêu chuẩn cán bộ, công chức;

4. Quyết định biên chế cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước ở trung ương; quy định định mức biên chế hành chính, sự nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân; hướng dẫn định mức biên chế trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước ở trung ương;

5. Tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng và phân cấp quản lý cán bộ, công chức;

6. Ban hành quy chế tuyển dụng, nâng ngạch; chế độ tập sự, thử việc;

7. Đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ, công chức;

8. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức;

9. Thực hiện việc thống kê cán bộ, công chức;

10. Thanh tra, kiểm tra việc thi hành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

11. Chỉ đạo, tổ chức giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, công chức."

9- Điều 36 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 36

1. Chính phủ quyết định biên chế và quản lý cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương; quy định định mức biên chế hành chính, sự nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân; hướng dẫn định mức biên chế trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước ở trung ương.

2. Bộ Nội vụ giúp Chính phủ thực hiện việc quản lý cán bộ, công chức quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ưương thực hiện quản lý cán bộ, công chức theo phân cấp của Chính phủ và theo quy định của pháp luật."

10- Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này lập thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xét nâng ngạch, nâng bậc lương trước thời hạn theo quy định của Chính phủ."

11- Khoản 1 và khoản 2 Điều 39 được sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này vi phạm các quy định của pháp luật, nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Hạ bậc lương;

d) Hạ ngạch;

đ) Cách chức;

e) Buộc thôi việc.

Việc xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức.

2. Việc bãi nhiệm, kỷ luật đối với cán bộ quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này được thực hiện theo quy định của pháp luật và điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội."

1.2- Điều 42 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này khi bị kỷ luật có quyền khiếu nại về quyết định kỷ luật đối với mình đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống bị buộc thôi việc có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của pháp luật."

1.3- Đoạn 1 của Điều 43 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức thì bị kéo dài thời gian nâng bậc lương thêm một năm; trong trường hợp bị kỷ luật bằng một trong các hình thức từ khiển trách đến cách chức thì không được bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn trong thời hạn ít nhất một năm, kể từ khi có quyết định kỷ luật."

Điều 2

Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2003.

Điều 3

1. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.

2. Căn cứ vào Pháp lệnh này, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể việc thực hiện đối với cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

Nguyễn Văn An

(Đã ký)

Văn bản bị sửa đổi bổ sung
Văn bản thay thế
Văn bản liên quan cùng nội dung
Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003

Số hiệu: 11/2003/PL-UBTVQH11
Loại văn bản: Pháp lệnh
Ngày ban hành: 29/04/2003
Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Người ký: Nguyễn Văn An
Ngày công báo: 02/06/2003
Số công báo: Số 46
Ngày hiệu lực: 01/07/2003
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Cán bộ, công chức...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký