Quyết định 58/TTg được ban hành năm 1994 bởi Thủ tướng Chính phủ nhằm quy định về tổ chức và các chế độ, chính sách đối với hệ thống y tế cơ sở trên phạm vi cả nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc củng cố mạng lưới y tế tuyến đầu, bảo đảm công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân tại địa phương.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quyết định này áp dụng đối với tổ chức y tế cơ sở tại các xã, phường, thị trấn (gọi chung là y tế cơ sở) và đội ngũ cán bộ y tế hoạt động tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn, cũng như nhân viên y tế tại các thôn, ấp, bản, buôn, làng trên toàn quốc.
Nhiệm vụ và nguyên tắc tổ chức của y tế cơ sở
- Y tế cơ sở được xác định là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, thuộc hệ thống y tế Nhà nước.
- Nhiệm vụ chính bao gồm: thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện dịch bệnh sớm, sơ cứu và chữa các bệnh thông thường, đỡ đẻ thông thường, tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình, vệ sinh phòng bệnh và nâng cao sức khỏe cộng đồng.
- Tổ chức y tế cơ sở dựa trên địa bàn cụm dân cư và nhu cầu thực tế của cộng đồng. Cán bộ phụ trách phải có năng lực quản lý và chuyên môn kỹ thuật phù hợp để bảo đảm hiệu quả hoạt động.
Quy định về bố trí số lượng cán bộ y tế cơ sở
- Tại tuyến xã, phường, thị trấn:
- Khu vực đồng bằng, trung du, thành phố: Bố trí từ 3 đến 6 cán bộ y tế cho mỗi trạm y tế tùy theo quy mô dân số và địa bàn.
- Khu vực miền núi, Tây Nguyên: Bố trí từ 4 đến 6 cán bộ y tế cho mỗi trạm y tế. Riêng vùng cao, vùng sâu, hẻo lánh có thể chỉ bố trí từ 1 đến 2 cán bộ trực thường xuyên tại trạm để tổng hợp tình hình, số còn lại được phân công trực tiếp về cắm bản, làng, buôn để phục vụ nhân dân.
- Ngoài định mức trên, các xã, phường có nhu cầu có thể ký hợp đồng thêm với cán bộ y tế và tự chi trả thù lao.
- Tại tuyến thôn, ấp, bản, buôn, làng: Tùy theo đặc điểm địa lý và dân cư, mỗi thôn, làng, ấp, bản, buôn (hoặc liên bản buôn) phải có ít nhất một cán bộ y tế hoặc nhân viên sức khỏe cộng đồng hoạt động, do xã hoặc phường chi trả thù lao theo công việc.
Chế độ, chính sách và bảo hiểm xã hội đối với cán bộ y tế cơ sở
- Cán bộ y tế cơ sở đã thuộc biên chế Nhà nước từ trước tiếp tục được giữ nguyên biên chế và hưởng đầy đủ quyền lợi, chế độ như công chức Nhà nước.
- Cán bộ y tế cơ sở không nằm trong biên chế Nhà nước (thuộc định mức quy định tại trạm y tế xã) được hưởng các quyền lợi tương tự như giáo viên tiểu học công tác tại xã, xếp lương theo hệ số ngạch bậc tương ứng với trình độ chuyên môn theo quy định tại Nghị quyết số 25/CP ngày 25/5/1993 của Chính phủ.
- Đối với vùng cao, biên giới, hải đảo chưa có cán bộ y tế chuyên trách: Cho phép sử dụng nhân lực kiêm nhiệm từ các ngành khác sau khi được đào tạo y tế cơ bản. Sở Y tế chi trả phụ cấp kiêm nhiệm dựa trên hiệu quả công việc, mức phụ cấp không quá 50% lương của cán bộ y tế cùng trình độ.
- Cán bộ y tế ngoài định mức do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và chi trả phụ cấp dựa trên kết quả công việc và sự đồng thuận của cộng đồng.
- Về bảo hiểm xã hội: Cán bộ y tế cơ sở trong định mức thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm sẽ được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành. Những trường hợp đang hưởng sinh hoạt phí cũ không đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội thì giải quyết chế độ nghỉ việc theo Nghị quyết số 46/CP ngày 23/6/1993 của Chính phủ.
Nguồn kinh phí hoạt động
- Kinh phí chi trả lương, phụ cấp và các chế độ cho cán bộ y tế cơ sở do ngân sách cấp tỉnh bảo đảm. Trường hợp ngân sách địa phương thiếu hụt, ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ.
- Giám đốc Sở Tài chính phối hợp với Giám đốc Sở Y tế chịu trách nhiệm quản lý và thực hiện chi trả đúng chế độ.
Chính sách đào tạo, thu hút và xóa "xã trắng" về y tế
- Bộ Y tế có trách nhiệm xây dựng kế hoạch đào tạo tại chỗ để ổn định lực lượng y tế cơ sở, đặc biệt là tại vùng sâu, vùng xa, miền núi.
- Cán bộ y tế từ vùng đồng bằng, thành phố tự nguyện lên công tác tại vùng cao, biên giới, hẻo lánh được hưởng lương và trợ cấp gấp 1,5 đến 2 lần so với cán bộ cùng trình độ trong biên chế.
- Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Y tế bố trí ngân sách từ đầu năm 1994 để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo cán bộ nhằm xóa bỏ tình trạng các xã chưa có trạm y tế hoặc không có cán bộ y tế hoạt động (xã trắng y tế).
Thành lập các đội y tế lưu động
- Thành lập các đội y tế lưu động tại các huyện miền núi, vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo để hỗ trợ tuyến cơ sở.
- Nhiệm vụ của đội lưu động: Phòng bệnh, dập dịch, phòng chống các bệnh xã hội (sốt rét, bướu cổ), hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch, khám chữa bệnh thông thường và bồi dưỡng chuyên môn cho y tế cơ sở.
- Nhân sự của đội lưu động thuộc biên chế của Trung tâm y tế huyện và chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc Trung tâm y tế huyện.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng các Bộ: Y tế, Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng Trưởng Ban tổ chức cán bộ - Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn thi hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 58/TTg | Hà Nội, ngày 03 tháng 2 năm 1994 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI Y TẾ CƠ SỞ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Để thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân;
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm1992;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1: Tổ chức y tế cơ sở trên địa bàn, phường, thị trấn (gọi chung là y tế cơ sở):
Điều 2: Cán bộ y tế cơ sở
Cán bộ y tế xã, phường, thị trấn, thôn, ấp, bản... sau đây gọi chung là cán bộ y tế cơ sở, được xác định theo địa bàn hoạt động, số lượng dân và nhu cầu của từng khu vực mà bố trí như sau:
a. Khu vực đồng bằng, trung du, thành phố;
Tuỳ theo số dân, địa bàn hoạt động, được bố trí từ 3 đến 6 cán bộ y tế cho 1 trạm y tế.
b. Khu vực miền núi, tây nguyên:
Tuỳ theo địa bàn hoạt động và dân số được bố trí từ 4 đến 6 cán bộ y tế cho 1 trạm y tế.
Ở vùng cao, vùng sâu nơi xa xôi hẻo lánh, y tế xã chỉ để 1 đến 2 cán bộ thường xuyên có mặt tại cơ sở y tế làm nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp tình hình công tác y tế của xã và thực hiện các dịch vụ y tế cho nhân dân tại các bản, làng gần cơ sở, số cán bộ y tế còn lại được phân công về công tác tại bản, liên bản, buôn làng.
2. Y tế thôn, làng, ấp, bản, buôn, liên bản buôn:
Tùy theo đặc điểm địa lý và dân cư của từng vùng để tổ chức lực lượng y tế cho phù hợp, ít nhất mỗi thôn, làng, ấp, bản, buôn (liên bản buôn) có một cán bộ y tế hoặc nhân viên sức khoẻ cộng đồng hoạt động do xã, phường trả thù lao theo công việc ngoài số cán bộ y tế nói tại phần a, b điểm 1 Điều 2 trên đây.
Điều 3: Chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế cơ sở:
a. Cán bộ y tế cơ sở quy định tại phần a, b điểm 1 Điều 2 của Quyết định này, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hiểm thì được hưởng mọi quyền lợi và chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định hiện hành của Nhà nước.
b. Số cán bộ y tế xã, phường hiện đang hưởng sinh hoạt phí theo các quy định trước đây nhưng không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì được hưởng chế độ nghỉ việc theo quy định tại Nghị quyết số 46/CP ngày 23/6/1993 của Chính phủ.
Điều 6: Bộ Tài chính phối hợp với các ngành có liên quan cân đối ngân sách và cùng Bộ Y tế triển khai ngay đề án củng cố, xây dựng trạm y tế xã vào đầu năm 1994 để xoá các xã trắng (xã không có cán bộ y tế hoạt động) và các xã chưa có trạm y tế. Ngân sách bao gồm các khoản để xây dựng nhà cửa, trang thiết bị chuyên môn kỹ thuật cho trạm y tế xã và đào tạo, bổ túc cán bộ, đặc biệt là các xã vùng cao, nơi xa xôi hẻo lánh, vùng đồng bào các dân tộc ít người.
Điều 7: Để hỗ trợ kịp thời đối với tuyến y tế cơ sở trong việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân tại các huyện có miền núi vùng cao, vùng sâu, nơi xa xôi hẻo lánh, biên giới, hải đảo và các huyện có xã vùng cao, vùng sâu được thành lập các đội y tế lưu động. Các đội y tế lưu động được trang bị dụng cụ và phương tiện đi lại để làm nhiệm vụ phòng bệnh, chống dịch, phòng chống sốt rét, bướu cổ, sinh đẻ có kế hoạch, chữa bệnh thông thường và bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật cho cán bộ y tế cơ sở. Số lao động của đội thuộc biên chế của Trung tâm y tế huyện và đặt dưới sự chỉ đạo, quản lý, điều hành của Giám đốc Trung tâm y tế huyện.
Điều 8: Quyết định này có hiêu lực thi hành kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với quy định trong Quyết định này đều bãi bỏ.
Điều 9: Bộ trưởng các Bộ: Y tế, Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Trưởng Ban tổ chức cán bộ - Chính phủ hướng dẫn thực hiện Quyết định này.
Điều 10: Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2 Nghị định 25-CP năm 1993 quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang
- 3 Nghị định 46-CP năm 1993 về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ Đảng, chính quyền và kinh phí hoạt động của các đoàn thể nhân dân ở xã, phường, thị trấn
- 4 Thông tư liên bộ 08/TT-LB năm 1995 hướng dẫn về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở do Bộ Y tế - Tài chính - Lao động thương binh và xã hội ban hành
- 5 Chỉ thị 37/CP năm 1996 về tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm yêu cầu công tác chiến đấu cho lực lượng công an ở vùng cao, hải đảo do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6 Nghị định 01/1998/NĐ-CP về hệ thống tổ chức y tế địa phương