Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3106:1993
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3106:1993 quy định phương pháp thử độ sụt của hỗn hợp bê tông nặng có tính dẻo và cỡ hạt lớn nhất của cốt liệu không quá 40mm. Đây là một trong những tiêu chuẩn kỹ thuật cốt lõi trong ngành xây dựng tại Việt Nam, giúp kiểm soát chất lượng và tính công tác của hỗn hợp bê tông trước khi tiến hành thi công đổ bê tông cho các công trình.
Điều 1: Phạm vi áp dụng
Điều khoản này xác định rõ giới hạn và đối tượng áp dụng của tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn này áp dụng để đo độ sụt của hỗn hợp bê tông nặng có tính dẻo, có cỡ hạt lớn nhất của cốt liệu không vượt quá 40mm.
- Đối với hỗn hợp bê tông có cỡ hạt lớn hơn 40mm, việc thử độ sụt phải được tiến hành sau khi đã sàng loại bỏ các hạt cốt liệu vượt quá kích thước này bằng phương pháp sàng ướt.
- Độ sụt của hỗn hợp bê tông xác định theo tiêu chuẩn này dao động trong khoảng từ 10mm đến 220mm. Nếu độ sụt nằm ngoài khoảng này, phương pháp thử này không còn phản ánh chính xác tính công tác của hỗn hợp bê tông và cần áp dụng phương pháp thử khác phù hợp hơn.
Điều 2: Tài liệu viện dẫn
Để áp dụng tiêu chuẩn này một cách chính xác, cần kết hợp viện dẫn với tiêu chuẩn sau:
- TCVN 3105:1993: Hỗn hợp bê tông nặng và bê tông nặng - Lấy mẫu, chế tạo và bảo dưỡng mẫu thử. Việc lấy mẫu hỗn hợp bê tông để thử độ sụt bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về phương pháp và vị trí lấy mẫu được nêu trong TCVN 3105:1993 nhằm đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ lô bê tông.
Điều 3: Thiết bị và dụng cụ thử nghiệm
Để tiến hành thử nghiệm độ sụt, các phòng thí nghiệm và đơn vị thi công cần chuẩn bị đầy đủ các thiết bị, dụng cụ đạt chuẩn kỹ thuật sau:
- Côn đo độ sụt (Côn Abrams): Được làm bằng kim loại không bị nước xi măng ăn mòn, có chiều dày tối thiểu là 1,5mm. Bề mặt bên trong của côn phải nhẵn bóng, không có các vết lồi lõm hay đinh tán nhô ra. Kích thước hình học của côn bao gồm: đường kính trong của đáy dưới là 200mm (sai số cho phép 2mm), đường kính trong của miệng trên là 100mm (sai số cho phép 2mm), và chiều cao là 300mm (sai số cho phép 2mm). Côn phải có hai quai xách ở phía trên và hai gá ép bằng chân ở phía dưới đáy để giữ cố định trong quá trình đầm.
- Thanh đầm (Thanh chọc): Là một thanh thép tròn, thẳng, có đường kính 16mm, chiều dài 600mm, hai đầu được bo tròn hình bán cầu để tránh làm dịch chuyển cốt liệu khi đầm.
- Thước đo: Thước lá bằng kim loại hoặc thước dây có vạch chia chính xác đến 1mm.
- Tấm nền: Phải là một tấm phẳng, cứng, không thấm nước, kích thước tối thiểu là 700mm x 700mm để đặt côn và chứa lượng bê tông rơi vãi.
- Dụng cụ phụ trợ khác: Bao gồm xẻng xúc, bay trộn, phễu nạp liệu để hỗ trợ quá trình đổ bê tông vào côn một cách dễ dàng và không bị rơi vãi ra ngoài.
Điều 4: Lấy mẫu hỗn hợp bê tông
Quy trình lấy mẫu đóng vai trò quyết định đến độ chính xác của kết quả thử nghiệm:
- Mẫu hỗn hợp bê tông dùng để thử độ sụt phải được lấy theo đúng quy định của TCVN 3105:1993.
- Thể tích mẫu bê tông cần lấy phải đảm bảo lớn hơn ít nhất 1,5 lần thể tích cần thiết để thực hiện phép thử độ sụt (thông thường khoảng 8 đến 10 lít cho một lần thử).
- Thời gian từ lúc lấy mẫu hỗn hợp bê tông xong cho đến khi bắt đầu tiến hành thử nghiệm độ sụt không được vượt quá 15 phút để tránh hiện tượng bê tông bị mất nước hoặc bắt đầu quá trình đông kết làm sai lệch kết quả đo thực tế.
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM
TCVN 3106 - 1993
HỖN HỢP BÊ TÔNG NẶNG - PHƯƠNG PHÁP THỬ ĐỘ SỤT
Fresh heavyweight concrete - Method for slump test
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp thử độ sụt của hỗn hợp bê tông nặng có tính dẻo và đủ độ dính kết. Tiêu chuẩn không áp dụng cho các loại hỗn hợp bê tông khô hoặc rời rạc.
1. THIẾT BỊ THỬ
Côn thử độ sụt với các thông số quy định trong bảng và hình vẽ. Thanh thép tròn trơn đường kính 16mm, dài 600mm hai đầu múp tròn. Phễu đổ hỗn hợp; Thước lá kim loại dài 30 cm, chính xác tới 0,5 cm.
1.1. Côn thử độ sụt là một khuôn hình nón cụt được uốn, hàn hoặc tán từ thép tôn dày tối thiểu 1,5 mm. Mặt trong của côn phải nhẵn, không có các vết nhô của đường hàn hoặc đinh tán.
2. LẤY MẪU
Lấy mẫu hỗn hợp bê tông để thử theo TCVN 3105 - 1993.
Thể tích hỗn hợp cần lấy: Khoảng 8 lít khi hỗn hợp bê tông có cỡ hạt lớn nhất của cốt liệu tới 40mm; khoảng 24 lít khi hỗn hợp bê tông có cỡ hạt lớn nhất của cốt liệu bằng 70 hoặc 100 mm.
| Loại côn | Kích thước | ||
| d | D | h | |
| N1 | 100 ± 2 | 200 ± 2 | 300 ± 2 |
| N2 | 150 ± 2 | 300 ± 2 | 450 ± 2 |
|
| 1- Tay cầm 2- Thành khuôn; 3- Gối đặt chân; 4- Đường hàn hoặc tán. |
Hình 1
3. TIẾN HÀNH THỬ
3.1. Dùng côn N1 để thử hỗn hợp bê tông, có cỡ hạt lớn nhất của cốt liệu tới 40mm, côn N2 để thử hỗn hợp bê tông có cỡ hạt lớn nhất của cốt liệu bằng 70% hoặc 100mm.
3.2. Tẩy sạch bê tông cũ, dùng giẻ ướt lau mặt trong của côn và các dụng cụ khác mà trong quá trình thử tiếp xúc với hỗn hợp bê tông.
3.3. Đặt côn lên nền ấm, cứng, phẳng, không thấm nước. Đứng lên gối đặt chân để giữ cho côn cố định trong cả quá trình đổ và đầm hỗn hợp bê tông trong côn.
3.4. Đỗ hỗn hợp bê tông qua phễu vào côn làm 3 lớp, mỗi lớp chiếm khoảng một phần ba chiều cao của côn. Sau khi đổ từng lớp dùng thanh thép tròn chọc đều trên toàn mặt hỗn hợp bê tông từ xung quanh vào giữa. Khu dùng côn N1 mỗi lớp chọc 25 lần, khi dùng côn N2 mỗi lớp chọc 56 lần. Lớp đầu chọc suốt chiều sâu, các lớp sau chọc xuyên sâu vào lớp trước 2-3cm. Ở lớp thứ ba, vừa chọc vừa cho thêm để giữ mức hỗn hợp luôn đầy hơn miệng côn.
3.5. Chọc xong lớp thứ ba, nhấc phễu ra, lấy tay gạt phẳng miệng côn và dọn sạch xung quanh đáy côn. Dùng tay ghì chặt côn xuống nền rồi thả chân khỏi gối đặt chân. Từ từ nhấc côn thẳng đứng trong khoảng thời gian 5 - 10 giây.
3.6. Đặt côn sang bên cạnh khối hỗn hợp vừa tạo hình và đo chênh lệch chiều cao giữa miệng côn với điểm cao nhất của khối hỗn hợp chính xác tới 0,5 cm.
3.7. Thời gian thử tính từ lúc bắt đầu đổ hỗn hợp bê tông vào côn cho tới thời điểm nhấc côn khỏi khối hỗn hợp phải được tiến hành không ngắt quãng và khống chế không quá 150 giây.
3.8. Nếu khối hỗn hợp bê tông sau khi nhấc côn bị đổ hoặc tạo thành hình khối khó đổ thì phải tiến hành lấy mẫu khác theo TCVN 3105 - 1993 để thử lại.
4. TÍNH KẾT QUẢ
4.1. Khi dùng côn N1 số liệu đo được làm tròn tới 0,5 cm, chính là độ sụt của hỗn hợp bê tông cần thử. Khi dùng côn N2 số liệu đo được phải tính chuyển về kết quả thử theo côn N1 bằng cách nhân với hệ số 0,67.
4.2. Hỗn hợp bê tông có độ sụt bằng không hoặc dưới 1,0 cm được coi như không có tính dẻo. Khi có đặc trưng của hỗn hợp được xác định bằng cách thử độ cứng theo TCVN 3107 - 1993.
5. BIÊN BẢN THỬ
Trong biên bản thử ghi rõ:
- Ngày giờ lấy mẫu và thử nghiệm;
- Nơi lấy mẫu;
- Độ sụt của hỗn hợp bê tông;
- Chữ ký của người thử.
- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3015:1993 về hỗn hợp bê tông nặng - lấy mẫu, chế tạo và bảo dưỡng mẫu thử
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3107:1993 về hỗn hợp bê tông nặng - phương pháp vebe xác định độ cứng
- 3 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5724:1993 về Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép - Điều kiện kỹ thuật tối thiểu để thi công và nghiệm thu
- 1 Quyết định 2143/QĐ-BKHCN năm 2022 hủy bỏ Tiêu chuẩn quốc gia về Bê tông nặng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5592:1991 về bê tông nặng - Yêu cầu bảo dưỡng ẩm tự nhiên
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3015:1993 về hỗn hợp bê tông nặng - lấy mẫu, chế tạo và bảo dưỡng mẫu thử
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3110:1993 về hỗn hợp bê tông nặng phương pháp phân tích thành phần
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3107:1993 về hỗn hợp bê tông nặng - phương pháp vebe xác định độ cứng
- 6 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5724:1993 về Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép - Điều kiện kỹ thuật tối thiểu để thi công và nghiệm thu
- 7 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3106:2022 về Hỗn hợp bê tông - Phương pháp xác định độ sụt
