Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5857:1994 về Đá quý – Phương pháp đo chiết suất quy định phương pháp xác định chiết suất của các loại đá quý tự nhiên và nhân tạo. Đây là một trong những phương pháp vật lý quan trọng nhất để giám định và phân biệt các loại đá quý dựa trên đặc tính quang học của chúng. Dưới đây là tóm tắt chi tiết nội dung từ Điều 1 đến Điều 4 của tiêu chuẩn này.

- Phạm vi áp dụng (Điều 1)
  • Tiêu chuẩn này quy định phương pháp đo chiết suất đối với các loại đá quý có bề mặt phẳng, được mài bóng (mẫu mài giác hoặc mài cabochon có diện tích phẳng đủ lớn).
  • Phương pháp này áp dụng cho cả đá quý tự nhiên và đá quý tổng hợp (nhân tạo) nhằm xác định trị số chiết suất đơn, chiết suất kép và lưỡng chiết suất.
  • Tiêu chuẩn không áp dụng cho các mẫu đá quý thô chưa chế tác hoặc các mẫu có bề mặt quá gồ ghề, không thể tiếp xúc quang học với lăng kính của chiết suất kế.
- Tiêu chuẩn viện dẫn (Điều 2)
  • Để áp dụng tiêu chuẩn này, cần tham chiếu đến các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế liên quan về thuật ngữ đá quý, phân loại đá quý và các phương pháp thử nghiệm quang học cơ bản.
  • Các tài liệu viện dẫn được áp dụng phiên bản được nêu trong tiêu chuẩn hoặc phiên bản mới nhất được sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống đo lường và giám định đá quý.
- Nguyên lý của phương pháp (Điều 3)
  • Phương pháp đo dựa trên hiện tượng phản xạ toàn phần của ánh sáng tại bề mặt tiếp xúc giữa lăng kính của chiết suất kế (có chiết suất cao đã biết trước) và bề mặt của mẫu đá quý cần đo (có chiết suất thấp hơn).
  • Khi ánh sáng truyền từ môi trường có chiết suất cao (lăng kính) sang môi trường có chiết suất thấp hơn (đá quý), tại một góc tới nhất định gọi là góc giới hạn, ánh sáng sẽ bị phản xạ toàn phần.
  • Ranh giới giữa vùng sáng (vùng phản xạ toàn phần) và vùng tối (vùng khúc xạ) trên thang đo của chiết suất kế sẽ chỉ ra trị số chiết suất trực tiếp của mẫu đá quý.
  • Để đảm bảo sự tiếp xúc quang học liên tục và loại bỏ lớp không khí giữa lăng kính và đá quý, một giọt chất lỏng tiếp xúc có chiết suất cao được sử dụng.
- Thiết bị, dụng cụ và hóa chất (Điều 4)
  • Chiết suất kế đá quý (Refractometer): Thiết bị chuyên dụng có lăng kính bằng thủy tinh chì hoặc vật liệu có chiết suất rất cao (thường từ 1.80 đến 1.96), có thang đo tích hợp hiển thị trực tiếp giá trị chiết suất từ khoảng 1.30 đến 1.80.
  • Nguồn sáng: Sử dụng nguồn sáng đơn sắc màu vàng của natri (bước sóng 589 nm) để đạt độ chính xác cao nhất. Trong trường hợp sử dụng ánh sáng trắng, thiết bị phải được trang bị bộ lọc sắc thích hợp để hạn chế hiện tượng tán sắc.
  • Chất lỏng tiếp xúc (Contact liquid): Sử dụng chất lỏng có chiết suất cao và ổn định, thông thường là dung dịch diiodomethane (methylene iodide) bão hòa lưu huỳnh và tetraiodoethylene, có chiết suất khoảng 1.79 đến 1.81 ở nhiệt độ phòng. Chất lỏng này phải được bảo quản tránh ánh sáng trực tiếp để không bị phân hủy.
  • Dụng cụ hỗ trợ: Kính lúp cầm tay hoặc kính hiển vi để quan sát ranh giới rõ nét, khăn mềm không xơ, cồn hoặc dung môi hữu cơ nhẹ để làm sạch bề mặt lăng kính và mẫu đá quý trước và sau khi đo.

TCVN 5857:1994

ĐÁ QUÝ - PHƯƠNG PHÁP ĐO CHIẾT SUẤT

Precious stone - Testing refractive index

 

Lời nói đầu

TCVN 5857:1994 do Hội khoáng học Việt Nam biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng trình duyệt, Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ khoa học và Công nghệ) ban hành;

Tiêu chuẩn này được chuyển đổi năm 2008 từ Tiêu chuẩn Việt Nam cùng số hiệu thành Tiêu chuẩn Quốc gia theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và điểm a Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 127/2007/NĐ -CP ngày 1/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.

 

ĐÁ QUÝ - PHƯƠNG PHÁP ĐO CHIẾT SUẤT

Precious stone - Testing refractive index

Tiêu chuẩn này quy định phương pháp đo chiết suất để kiểm tra các loại đá quý.

1. Bản chất phương pháp

Khi một tia sáng được chiếu vào một viên đá quý, tốc độ truyền ánh sáng trong đó sẽ giảm xuống ở mức độ nào đó tùy thuộc vào các đặc tính quang học - tinh thể của viên đá. Đại lượng phản ánh tính chất quang học đó của đá quý gọi là chiết suất n:

Trong đó:

V0 - vận tốc ánh sáng trong chân không;

V - vận tốc ánh sáng trong viên đá;

i - góc tới;

r - góc khúc xạ.

Đo chiết suất n để kiểm tra đá quý là bản chất của phương pháp này.

2. Thiết bị thử

Phương pháp đo chiết suất được sử dụng chủ yếu cho đá quý là phương pháp khúc xạ kế và thiết bị được dùng là khúc xạ kế (refractometer). Thiết bị này dựa trên sự tương quan giữa giá trị chiết suất n và góc phản xạ toàn phần của viên đá.

Sơ đồ nguyên lý của một khúc xạ kế dùng cho đá quý trình bày ở Hình 1.

Hình 1 - Sơ đồ nguyên lý của máy khúc xạ kế

Những yêu cầu cơ bản của một khúc xạ kế dùng cho đá quý là:

- Phải là loại dùng để đo các chất rắn;

- Có dải đo chiết suất đủ rộng (thường từ 1,3 đến 1,8) để đo được đa số các loại đá quý;

- Có nguồn sáng natri với bước sóng chuẩn 5893oA;

- Có kính lọc phân cực để đo chiết suất những chất dị hướng quang học;

- Có dung dịch có chiết suất trung gian (1,81) giữa bán cầu (bán trụ) thủy tinh và viên đá để tạo ra tiếp xúc quang học giữa chúng (dung dịch đệm).

3. Mẫu thử

Mẫu để đo chiết suất phải có ít nhất một mặt được mài phẳng và đánh bóng theo đúng quy định. Đối với mẫu dị hướng mặt phẳng này phải song song với trục quang học của mẫu.

Chuẩn máy bằng các mẫu chuẩn chiết suất trước khi đo.

Rửa và lau sạch mặt của bán cầu (bán trụ) thủy tinh và mặt mẫu. Các mặt phẳng này không cho phép có các vết xước, nứt rỗ.

4. Tiến hành thử

Mở nguồn sáng natri cho đến khi hoạt động ổn định. Nhỏ một giọt dung dịch đệm lên mặt bán cầu (bán trụ) thủy tinh của khúc xạ kế: đường kính giọt dung dịch khi đặt viên đá lên không lớn hơn 1 mm đến 2 mm. Dung dịch đệm dùng cho khúc xạ kế để đo đá quý thường là iođua mêtylen (CH2I2) được bão hòa lưu huỳnh. Đặt nhẹ mặt mài bóng của viên đá lên giọt dung dịch đệm, di nhẹ qua lại sao cho không còn bọt khí ở mặt tiếp xúc quang học. Điều chỉnh nguồn sáng sao cho thang đo rõ nét nhất. Giá trị chiết suất n đọc theo giá trị tương ứng với ranh giới giữa trường tối (ở trên) và trường sáng (ở dưới).

Lắp kính phân cực lên thị kính và xoay 360o. Nếu ranh giới giữa trường sáng và trường tối không thay đổi thì chỉ có một giá trị chiết suất (vật đẳng hướng). Nếu ranh giới này thay đổi trong một khoảng độ nào đó thì ghi giá trị nmax và nmin (vật dị hướng).

Lấy mẫu khỏi bán cầu thủy tinh và lau sạch dung dịch ở cả bán cầu và mặt viên đá quý.

5. Xử lý kết quả

Đối với vật đẳng hướng cần đo 2 đến 3 lần và lấy giá trị trung bình cộng.

Đối với vật dị hướng, nếu không có mặt phẳng song song với trục quang, cần đo chiết suất ở vài mặt khác nhau, mỗi mặt 2 đến 3 lần rồi lấy các giá trị nmax và nmin.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5857:1994 về Đá quý – Phương pháp đo chiết suất

Số hiệu: TCVN5857:1994
Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
Ngày ban hành: 01/01/1994
Nơi ban hành: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Ngưng hiệu lực
Lĩnh vực: Tài nguyên - Môi trường
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5857:1994 về Đá quý...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký