Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1464:1974 do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành, quy định các yêu cầu kỹ thuật và quy trình công nghệ đối với việc gia công chống mục bề mặt cho gỗ xẻ. Đây là văn bản kỹ thuật quan trọng nhằm bảo vệ gỗ khỏi sự xâm hại của nấm mốc, mối mọt và các tác nhân gây mục nát, từ đó nâng cao tuổi thọ và chất lượng của công trình sử dụng gỗ.
Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết nội dung phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của tiêu chuẩn:
- Điều 1: Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn
- Tiêu chuẩn này áp dụng bắt buộc đối với tất cả các loại gỗ xẻ từ gỗ lá kim và gỗ lá rộng được sử dụng trong các công trình xây dựng, giao thông vận tải, sản xuất công nghiệp và các mục đích sử dụng khác có yêu cầu bảo vệ bề mặt chống mục.
- Quy chuẩn này tập trung vào phương pháp gia công hóa chất bảo quản trực tiếp lên bề mặt gỗ nhằm tạo ra lớp màng bảo vệ ngăn ngừa sự phát triển của nấm hoại thư và các vi sinh vật gây hại.
- Điều 2: Yêu cầu đối với gỗ trước khi tiến hành gia công bảo quản
- Độ ẩm của gỗ: Gỗ xẻ trước khi đưa vào xử lý hóa chất chống mục phải đạt độ ẩm quy định (thông thường không quá 25% đến 30% tùy theo loại gỗ và yêu cầu cụ thể). Gỗ quá ẩm sẽ làm giảm khả năng thẩm thấu của dung dịch hóa chất bảo quản vào các thớ gỗ.
- Trạng thái bề mặt: Bề mặt gỗ xẻ phải được làm sạch hoàn toàn bụi bẩn, bùn đất, dầu mỡ và không được còn sót lại vỏ cây. Vỏ cây sót lại sẽ ngăn cản hóa chất tiếp xúc trực tiếp với phần gỗ thịt.
- Gia công cơ học trước khi xử lý: Tất cả các công đoạn gia công cơ học như cưa, xẻ, bào, khoan lỗ, cắt mộng phải được thực hiện hoàn tất trước khi tiến hành bôi hoặc phun thuốc chống mục. Nếu bắt buộc phải gia công thêm sau khi đã xử lý, các bề mặt mới lộ ra phải được quét lại hóa chất bảo quản ngay lập tức.
- Điều 3: Yêu cầu đối với hóa chất bảo quản chống mục
- Chất lượng hóa chất: Các loại hóa chất, thuốc sát trùng sử dụng để pha chế dung dịch chống mục phải tuân thủ đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành, đảm bảo khả năng diệt nấm cao và bám dính tốt trên bề mặt gỗ.
- Nồng độ dung dịch: Việc pha chế dung dịch hóa chất phải được thực hiện chính xác theo tỷ lệ hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc quy định kỹ thuật cụ thể cho từng nhóm gỗ. Dung dịch phải được khuấy đều để đảm bảo nồng độ đồng nhất trước và trong suốt quá trình gia công.
- An toàn lao động và môi trường: Hóa chất sử dụng phải có độc tính tối thiểu đối với con người và vật nuôi trong quá trình sử dụng công trình, đồng thời không gây ăn mòn nghiêm trọng đối với các chi tiết kim loại liên kết với gỗ.
- Điều 4: Phương pháp và quy trình công nghệ gia công bề mặt
- Phương pháp quét (bôi) và phun: Đây là hai phương pháp phổ biến nhất để xử lý bề mặt gỗ xẻ. Việc quét hoặc phun hóa chất phải được thực hiện đều tay, đảm bảo dung dịch thấm đều vào toàn bộ bề mặt gỗ, đặc biệt chú ý đến các đầu khúc gỗ (mặt cắt ngang) vì đây là nơi dễ thấm nước và dễ bị nấm mốc tấn công nhất.
- Phương pháp nhúng nhanh: Cho phép nhúng gỗ xẻ vào bể chứa dung dịch hóa chất bảo quản trong một khoảng thời gian ngắn xác định để hóa chất bám đều lên toàn bộ bề mặt. Phương pháp này đòi hỏi thiết bị bể nhúng chuyên dụng và hệ thống thu hồi dung dịch thừa để tránh lãng phí và ô nhiễm môi trường.
- Số lần xử lý: Tùy thuộc vào loại hóa chất và yêu cầu bảo vệ, việc xử lý bề mặt có thể phải thực hiện từ 1 đến 2 lần. Khoảng thời gian giữa các lần quét hoặc phun phải đủ để lớp trước khô hoàn toàn (thường từ 2 đến 4 giờ tùy điều kiện thời tiết).
- Điều kiện thời tiết khi thi công: Không tiến hành gia công chống mục bề mặt gỗ ngoài trời khi trời đang mưa hoặc độ ẩm không khí quá cao, tránh làm loãng hoặc rửa trôi hóa chất bảo quản khi chưa kịp khô bám vào gỗ.
TIÊU CHUẨN NHÀ NƯỚC
TCVN 1464-74
GỖ XẺ
GIA CÔNG CHỐNG MỤC BỀ MẶT
1. Tiêu chuẩn này quy định những quy tắc về gia công chống mục bề mặt cho gỗ xẻ.
2. Công việc làm sạch gỗ và cắt xén phải tiến hành trước khi tẩm.
3. Gỗ xẻ phải được gia công chống mục bề mặt chậm nhất là 48 giờ sau khi xẻ.
4. Phải dùng những loại thuốc chống mục nhập của nước ngoài hoặc do ta sản xuất như Cl5C6ONa, LN2 để chống mục cho bề mặt gỗ xẻ.
5. Khi pha thuốc chống mục, không được dùng loại nước đã bị nhiễm bẩn do các xí nghiệp hóa chất thải ra.
6. Nồng độ thuốc trong dung dịch phải theo đúng quy định của từng loại thuốc như:
- loại Cl5C6ONa: có nồng độ là 5%.
- loại LN2: có nồng độ là 8%.
7. Trong quá trình sản xuất, nồng độ thuốc phải được kiểm tra bằng tỉ trọng kế.
8. Phải đảm bảo cho thuốc chống mục ngấm vào tất cả các mặt của gỗ xẻ. Khi ngâm cả bó thì thời gian ngâm cả bó trong dung dịch thuốc chống mục phải ít nhất là 20 giây.
9. Gỗ sau khi gia công chống mục bề mặt xong, phải hong ngoài không khí dưới mái che không muộn quá 2 ngày.
10. Gỗ xẻ sau khi tẩm thuốc chống mục không được ảnh hưởng đến vẻ đẹp tự nhiên của gỗ.
11. Gỗ xẻ đã qua gia công chống mục, sau khi kiểm tra mà vẫn còn nấm bệnh, phải xem như là chưa chống mục.
12. Những quy tắc an toàn lao động trong khi ngâm tẩm phải theo đúng những quy định của từng loại thuốc.
- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4739:1989 về gỗ xẻ - khuyết tật - thuật ngữ và định nghĩa do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1075:1971 về gỗ xẻ - kích thước cơ bản
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1076:1971 về gỗ xẻ - tên gọi và định nghĩa
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1758:1986 về gỗ xẻ - phân hạng chất lượng theo khuyết tật
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1284:1986 về gỗ xẻ - bảng tính thể tích
- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4739:1989 về gỗ xẻ - khuyết tật - thuật ngữ và định nghĩa do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1075:1971 về gỗ xẻ - kích thước cơ bản
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1076:1971 về gỗ xẻ - tên gọi và định nghĩa
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1758:1986 về gỗ xẻ - phân hạng chất lượng theo khuyết tật
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1284:1986 về gỗ xẻ - bảng tính thể tích
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1464:1986 về gỗ xẻ - phương pháp phòng mục bề mặt