Tóm tắt Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4360:2001 (ISO 7213:1981) về Bột giấy - Lấy mẫu để thử nghiệm
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4360:2001 hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 7213:1981. Đây là văn bản kỹ thuật quan trọng quy định phương pháp lấy mẫu đại diện từ một lô bột giấy để tiến hành các thử nghiệm vật lý và hóa học, nhằm đánh giá chất lượng sản phẩm một cách khách quan và chính xác nhất. Dưới đây là nội dung tóm tắt chi tiết các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của tiêu chuẩn này.
1. Phạm vi áp dụng (Điều 1)
Điều khoản này xác định rõ giới hạn và đối tượng áp dụng của tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn này quy định phương pháp lấy mẫu đối với tất cả các loại bột giấy được phân phối theo lô, nhằm chuẩn bị mẫu thử cho các phép thử vật lý, hóa học và sinh học.
- Tiêu chuẩn áp dụng cho cả bột giấy dạng tấm (bột giấy kiện) và bột giấy dạng cuộn, dạng rời hoặc các dạng đóng gói thương mại khác.
- Lưu ý đặc biệt: Tiêu chuẩn này không áp dụng cho việc lấy mẫu để xác định hàm lượng chất khô (độ khô thương mại) của các lô bột giấy. Việc xác định độ khô phải tuân theo các tiêu chuẩn chuyên biệt khác như TCVN 4361 (ISO 801).
2. Tiêu chuẩn viện dẫn (Điều 2)
Để áp dụng hiệu quả TCVN 4360:2001, người sử dụng cần tham chiếu và phối hợp với các tiêu chuẩn liên quan:
- Các tiêu chuẩn về thuật ngữ và định nghĩa chung trong ngành giấy, các tông và bột giấy.
- Các tiêu chuẩn phương pháp thử cụ thể đối với từng chỉ tiêu cơ lý hóa của bột giấy sau khi đã lấy mẫu thành công.
3. Thuật ngữ và định nghĩa (Điều 3)
Để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và thực hiện, tiêu chuẩn đưa ra các định nghĩa cốt lõi sau:
- Lô bột giấy (Lot): Là lượng bột giấy có cùng một ký hiệu, được sản xuất trong cùng một điều kiện hoặc được giao nhận cùng một lúc, có các đặc tính kỹ thuật được coi là đồng nhất.
- Đơn vị bao gói (Unit): Là một kiện, một cuộn, một bao hoặc một thùng bột giấy riêng lẻ cấu thành nên lô hàng.
- Mẫu ban đầu (Increment): Là lượng bột giấy được lấy ra từ một vị trí duy nhất trong một đơn vị bao gói được chọn.
- Mẫu chung (Gross sample): Là mẫu được tạo thành bằng cách gộp tất cả các mẫu ban đầu lấy từ lô hàng lại với nhau.
- Mẫu thử (Specimen): Là lượng bột giấy được lấy ra từ mẫu chung hoặc mẫu phòng thí nghiệm để trực tiếp tiến hành một phép thử cụ thể.
4. Nguyên tắc chung và quy trình lấy mẫu (Điều 4)
Nguyên tắc cốt lõi của việc lấy mẫu là phải đảm bảo tính đại diện tối đa cho toàn bộ lô hàng và tránh làm thay đổi tính chất của mẫu trong quá trình thao tác:
- Tính đại diện: Các đơn vị bao gói được chọn để lấy mẫu phải được phân bổ ngẫu nhiên và đều khắp trong toàn bộ lô hàng. Không được chỉ lấy mẫu ở những vị trí dễ tiếp cận hoặc những kiện nằm ngoài cùng.
- Số lượng đơn vị lấy mẫu: Tiêu chuẩn quy định cụ thể công thức hoặc bảng tra cứu để xác định số lượng kiện/cuộn cần mở để lấy mẫu, tùy thuộc vào tổng số lượng đơn vị có trong lô hàng.
- Bảo vệ mẫu: Trong suốt quá trình lấy mẫu, vận chuyển và lưu kho, mẫu phải được bảo vệ nghiêm ngặt tránh khỏi các tác động của môi trường như ánh nắng trực tiếp, độ ẩm cao, bụi bẩn hoặc các hóa chất bay hơi. Mẫu phải được đựng trong các bao bì kín, không thấm nước và không phản ứng hóa học với bột giấy.
- Dụng cụ lấy mẫu: Phải sạch sẽ, khô ráo và không làm nhiễm bẩn mẫu thử. Các dụng cụ cắt, khoan hoặc xé mẫu phải được thiết kế chuyên dụng để không làm thay đổi cấu trúc xơ sợi của bột giấy tại vùng lấy mẫu.
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM
BỘT GIẤY - LẤY MẪU ĐỂ THỬ NGHIỆM
(Soát xét lần 1 - Thay thế TCVN 4360 : 1986)
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp lấy mẫu đại diện cho một lô bột giấy ở dạng cuộn hoặc kiện.Mẫu bột giấy lấy theo phương pháp này được dùng cho tất cả các phép thử, trừ phép xác định khối lượng thương phẩm của lô sản phẩm. Lấy mẫu để xác định khối lượng thương phẩm của lô sản phẩm theo ISO 801/1 hoặc 801/2.
Tuy nhiên, mẫu bột giấy được lấy theo tiêu chuẩn phù hợp để xác định khối lượng thương phẩm của lô sản phẩm cũng có thể dùng để xác định các tính chất của bột giấy.
ISO 801, Pulp – Determination of saleable mass, in lots.
Part 1: Pulp baled in seet form
Part 2: Pulp ( such as flash-dried pulp) baled in slabs.
3.1 Lô ( Lot)
Là lọai bột giấy cùng chủng lọai và cung cấp chất lượng.
Số lượng cuộn hoặc kiện có trong lô có thể được chỉ ra trong hóa đơn thương mại hoặc trong bản hợp đồng của các bên liện quan.
3.2 Kiện (hoặc cuộn) mẫu ban đầu (Sample bale or roll)
Là các cuộn hoặc kiện được lấy từ lô bộ giấy.
3.3 Mảnh mẫu (Specimen)
Là các mảnh mẫu được lấy từ kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu.
3.4 Mẫu thí nghiệm (Gross sample)
Là tập hợp các mảnh mẫu đã lấy.
Lấy các mảnh mẫu như nhau từ các cuộn hoặc kiện theo cách ngẫu nhiên trong lô và tập hợp lại thành mẫu thí nghiệm.
Chú thích: - Số lượng kiện tối thiểu cần lấy phụ thuộc vào độ lớn của lô hàng.
5. Các kiện (hoặc cuộn) mẫu ban đầu
Tất cả các kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu được lấy theo cách ngẫu nhiên đại diện cho một lô sản phẩm.
Các kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu phải nguyên vẹn và có trạng thái bên ngòai tốt. Nếu tòan bộ lô sản phẩm có sẵn để lấy mẫu, thì số kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu tối thiểu cần lấy theo bảng 1. Khi tòan bộ lô hàng không có sẵn để lấy mẫu thì số lương kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu cần lấy, theo thỏa thuận của các bên liên quan. Lượng sản phẩm bột giấy tại thời điểm lấy mẫu không được nhỏ hơn một phần hai tòan bộ lô sản phẩm.
Nếu các kiện hoặc cuộn có nhiều seri thì số lượng kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu được lấy theo cách ngẫu nhiên có tỷ lệ tương xứng với số lượng kiện hoặc cuộn trong mỗi seri theo nguyên tắc trong bảng 1.
Bảng 1 – Số lượng kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu cần lấy:
| Tổng số lượng kiện hoặc cuộn có trong lô sản phẩm, N | Số lượng kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu tối thiểu cần lấy, n |
| đến 100 | 10 |
| từ 101 đến 200 | 15 |
| từ 201 đến 300 | 18 |
| từ 301 đến 400 | 20 |
| từ 401 đến 500 | 23 |
| từ 501 đến 600 | 25 |
| từ 601 đến 700 | 27 |
| từ 701 đến 800 | 29 |
| từ 801 đến 900 | 30 |
| từ 901 đến 1000 | 32 |
| lớn hơn 1000 | 32 |
Lấy mảnh mẫu từ mỗi kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu với khối lượng phụ thuộc vào các phép thử cần thực hiện, thông thường là 100g.
Tập hợp tất cả các mảnh mẫu đã lấy bọc chung lại để tránh làm bẩn, không để ở nơi có ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào, nơi có nhiệt độ cao và ẩm ướt.
Nếu cần xác định kim lọai vết có trong mẫu bột giấy, thì không được dùng dụng cụ bằng kim lọai để lấy mẫu.
6.1 Bột giấy ở dạng tờ được đóng thành kiện
Mở các kiện mẫu ban đầu, mỗi kiện lấy một tờ theo cách ngẫu nhiên. Không lấy các tờ nằm trong năm tờ trên cùng và dưới cùng của mỗi kiện. Từ mỗi tờ xé một mảnh mẫu cách các mép từ 7cm đến 8cm.
Để không phải mở các kiện bột giấy, sử dụng một trong các phương pháp sau:
a) Dùng dụng cụ lấy mẫu chuyên dụng để lấy mẫu.
b) Cắt một ô theo hình vuông ở khỏang giữa hai dây đai của kiện bột giấy với chiều sâu đủ để lấy được mảnh mẫu (bỏ qua lớp trên cùng và xé bỏ các phầm mép).
6.2 Bột giấy dạng tấm khô đóng thành kiện
Các mảnh mẫu được lấy bằng dụng cụ lấy mẫu theo ISO 801/2 hoặc được lấy từ bên trong các tấm bột giấy, không lấy các phần bột giấy ở phía ngòai.
6.3 Bột giấy dạng cuộn
Bỏ ba lớp ngòai cùng của cuộn và cắt hoặc xé các mảnh mẫu có kích thước xấp xỉ nhau, không lấy các phần mẫu ở mép cuộn.
6.4 Các kiện bột giấy tập hợp thành đơn vị sản phẩm
Nếu trong lô chia ra nhiều đơn vị sản phẩm, đơn vị sản phẩm này gồm nhiều kiện, thì kiện mẫu ban đầu được lấy ở đỉnh và đáy của đơn vị sản phẩm với số lượng bằng nhau theo một trong các phương pháp ở 6.1 và không cần phải mở các đơn vị sản phẩm.
Báo cáo lấy mẫu gồm các thông tin sau:
1. Các thông tin cần thiết về lô sản phẩm;
2. Viện dẫn theo tiêu chuẩn này;
3. Địa điểm và thời gian lấy mẫu;
4. Số lượng sản phẩm trong lô, số kiện nếu có;
5. Lượng bột giấy có sẵn để lấy mẫu;
6. Số ký hiệu của kiện hoặc cuộn mẫu ban đầu, nếu có;
7. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lấy mẫu.
- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6898:2001 về giấy - xác định độ bền bề mặt - phương pháp nến do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4361:2002 về bột giấy – xác định trị số kappa do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5899:2001 về giấy viết do Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 4 Tiêu chuẩn ngành 24 TCN 81:2000 về bột giấy, giấy và cáctông thông dụng - Thuật ngữ do Bộ Công nghiệp ban hành
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4407:1987 về Bột giấy (xenluylo) - Phương pháp xác định độ khô do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4408:1987 về Bột giấy (xenluylô) - Phương pháp xác định độ nghiền
- 7 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9573-1:2013 (ISO 5263-1:2004) về Bột giấy - Đánh tơi ướt trong phòng thí nghiệm - Phần 1: Đánh tơi bột giấy hóa học
- 8 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9574-1:2013 (ISO 5264-1:1979) về Bột giấy - Nghiền trong phòng thí nghiệm - Phần 1: Phương pháp nghiền bằng máy nghiền Hà Lan
- 9 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10761:2015 (ISO 1762:2001) về Giấy, các tông và bột giấy - Xác định phần còn lại (độ tro) sau khi nung ở nhiệt độ 525°C
- 1 Quyết định 68/2001/QĐ-BKHCNMT ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam Chất lượng nước, Chất lượng không khí, An toàn bức xạ do Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6898:2001 về giấy - xác định độ bền bề mặt - phương pháp nến do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4361:2002 về bột giấy – xác định trị số kappa do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5899:2001 về giấy viết do Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 5 Tiêu chuẩn ngành 24 TCN 81:2000 về bột giấy, giấy và cáctông thông dụng - Thuật ngữ do Bộ Công nghiệp ban hành
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4407:1987 về Bột giấy (xenluylo) - Phương pháp xác định độ khô do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 7 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4408:1987 về Bột giấy (xenluylô) - Phương pháp xác định độ nghiền
- 8 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9573-1:2013 (ISO 5263-1:2004) về Bột giấy - Đánh tơi ướt trong phòng thí nghiệm - Phần 1: Đánh tơi bột giấy hóa học
- 9 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9574-1:2013 (ISO 5264-1:1979) về Bột giấy - Nghiền trong phòng thí nghiệm - Phần 1: Phương pháp nghiền bằng máy nghiền Hà Lan
- 10 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10761:2015 (ISO 1762:2001) về Giấy, các tông và bột giấy - Xác định phần còn lại (độ tro) sau khi nung ở nhiệt độ 525°C