Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3115:1993
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3115:1993 quy định phương pháp xác định khối lượng thể tích của bê tông nặng. Đây là một trong những tiêu chuẩn kỹ thuật cốt lõi trong ngành xây dựng, giúp đánh giá chất lượng, độ đặc chắc và tính chất cơ lý của bê tông thông qua việc xác định tỷ số giữa khối lượng và thể tích của mẫu thử ở các trạng thái độ ẩm khác nhau.
Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn (Điều 1)
- Tiêu chuẩn này áp dụng bắt buộc cho các loại bê tông nặng được sử dụng trong xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông và các công trình hạ tầng khác.
- Quy định phương pháp xác định khối lượng thể tích của hỗn hợp bê tông đã đóng rắn ở trạng thái tự nhiên, trạng thái sấy khô đến khối lượng không đổi, hoặc trạng thái bão hòa nước.
Thiết bị và dụng cụ thử nghiệm (Điều 2)
Để tiến hành xác định khối lượng thể tích của bê tông nặng một cách chính xác, cần chuẩn bị đầy đủ các thiết bị và dụng cụ đo lường đạt tiêu chuẩn chất lượng sau:
- Cân kỹ thuật: Phải có độ chính xác cao, sai số không vượt quá 0,1% khối lượng mẫu thử. Cân được sử dụng để xác định khối lượng của mẫu ở các trạng thái khác nhau.
- Thước cặp hoặc thước lá kim loại: Dùng để đo kích thước hình học của mẫu thử với độ chính xác đến 1 mm, phục vụ cho việc tính toán thể tích mẫu.
- Tủ sấy: Có bộ phận điều chỉnh nhiệt độ tự động, khả năng duy trì nhiệt độ ổn định ở mức từ 105 độ C đến 110 độ C để sấy khô mẫu đến khối lượng không đổi.
- Bể ngâm nước: Dùng để ngâm mẫu trong trường hợp xác định khối lượng thể tích ở trạng thái bão hòa nước.
Quy định về chuẩn bị mẫu thử (Điều 3)
Việc chuẩn bị mẫu thử đóng vai trò quyết định đến độ chính xác của kết quả đo. Các yêu cầu cụ thể bao gồm:
- Mẫu thử có thể là các mẫu đúc hình lập phương, hình trụ hoặc các mẫu được khoan, cắt trực tiếp từ kết cấu công trình thực tế.
- Kích thước của mẫu thử phải phù hợp với kích thước hạt lớn nhất của cốt liệu được sử dụng trong cấp phối bê tông theo quy định hiện hành.
- Bề mặt mẫu thử phải phẳng, không bị sứt mẻ góc cạnh hoặc có các khuyết tật lớn làm ảnh hưởng đến việc đo kích thước và tính thể tích.
- Số lượng mẫu thử trong một tổ mẫu để xác định khối lượng thể tích không được ít hơn 3 mẫu nhằm đảm bảo tính đại diện và khách quan của kết quả đo.
Trình tự tiến hành thử nghiệm (Điều 4)
Quy trình xác định khối lượng thể tích được thực hiện nghiêm ngặt qua các bước sau:
- Đo kích thước mẫu: Tiến hành đo các kích thước hình học của mẫu thử (chiều dài, chiều rộng, chiều cao hoặc đường kính và chiều cao) bằng thước cặp hoặc thước lá. Mỗi chiều đo ít nhất ở 3 vị trí khác nhau rồi lấy giá trị trung bình cộng. Sai số phép đo không được vượt quá quy định cho phép.
- Tính thể tích mẫu: Thể tích của mẫu thử được tính toán dựa trên các kích thước trung bình đã đo được, biểu thị bằng centimet khối (cm3) hoặc mét khối (m3).
- Xác định khối lượng mẫu: Tùy thuộc vào yêu cầu thử nghiệm cụ thể, tiến hành cân khối lượng mẫu ở một trong các trạng thái: trạng thái tự nhiên, trạng thái sấy khô (sấy ở nhiệt độ 105 - 110 độ C cho đến khi chênh lệch giữa hai lần cân liên tiếp không quá 0,1%), hoặc trạng thái bão hòa nước (ngâm mẫu trong nước đến khi đạt trạng thái bão hòa hoàn toàn).
BÊ TÔNG NẶNG - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH KHỐI LƯỢNG THỂ TÍCH
Heavyweight concrete - Method for determination of density
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định khối lượng thể tích của bê tông nặng ở các trạng thái: sấy khô tới khối lượng không đổi, khô tự nhiên trong không khí, bảo dưỡng trong điều kiện tiêu chuẩn và bão hoà nước.
Cân kĩ thuật có độ chính xác tới 50g.
Thước lá kim loại, cân thuỷ tĩnh có độ chính xác tới 50g.
Bếp điện và thùng nấu Paraphin.
Tủ sấy 2000C.
2.1 Khối lượng thể tích của bê tông tuỳ theo yêu cầu được tiến hành thử ở một trong 4 trạng thái khác nhau về độ ẩm như sau:
a. Sấy khô tới khối lượng không đổi;
b. Khô tự nhiên trong không khí;
c. Bảo dưỡng trong điều kiện tiêu chuẩn;
d. Bão hoà nước.
2.2 Khối lượng thể tích của bê tông được xác định trên 3 viên mẫu có hình khối lập phương, trụ, lăng trụ hoặc có hình dạng bất kì. Kích thước và thể tích tối thiểu của một viên mẫu được lấy theo điều 3.4 của TCVN 3105: 1993.
2.3 Sau khi lấy mẫu, các viên mẫu được đưa về trạng thái thử như sau:
2.3.1. Mẫu sấy khô tới khối lượng không đổi: sấy mẫu ở nhiệt độ 105 - 1100C. Cứ sau 24 giờ sấy lấy mẫu ra cân một lần. Mẫu được coi là đã sấy khô tới khối lượng không đổi nếu ở 2 lần cân kế tiếp nhau khối lượng mẫu chênh lệch nhau không quá 0,2% so với mẫu khô.
2.3.2. Mẫu khô tự nhiên trong không khí: để mẫu trong không khí ở nhiệt độ phòng ít nhất 7 ngày đêm.
2.3.3. Mẫu bảo dưỡng trong điều kiện tiêu chuẩn: mẫu đã để sau 20 ngày đêm bảo dưỡng ở nhiệt độ 27 ± 20C, độ ẩm 95 – 100%.
2.3.4. Mẫu bão hoà nước: đặt mẫu vào thùng ngâm, đổ nước ngập 1/3 chiều cao mẫu trong l giờ. Đổ tiếp nước tới 2/3 chiều cao mẫu ngâm thêm 1 giờ nữa. Sau cùng đồ nước ngập trên mẫu khoảng 5cm. Cứ sau 24 giờ ngâm nước vớt mẫu ra một lần, dùng vải ẩm lau ráo mặt ngoài rồi cân. Mẫu được coi là bão hoà nước nếu sau 2 lần cân kế tiếp nhau khối lượng mẫu chênh lệch nhau không quá 0,2%.
3.1 Xác định khối lượng mẫu
Cân từng viên mẫu chính xác tới 0,2%. Khối lượng thể tích bê tông yêu cầu thử ở trạng thái nào thì phải cân các viên mẫu đã chuẩn bị ở trạng thái đó.
3.2 Xác định thể tích của mẫu
3.2.1. Khi mẫu là khối lập phương, trụ hay lăng trụ thì đo kích thước từng viên theo chỉ dẫn ở hình 1 và hình 2 rồi tính thể tích của từng viên (V) theo các công thức:

3.2.2. Khi mẫu bê tông không có hình khối đứng thì xác định thể tích tương ứng của từng viên mẫu bằng một trong hai cách sau:
a. Đối với các mẫu không có các lỗ trống lớn thông nhau, buộc từng mẫu vào một sợi dây mảnh, ngâm mẫu một ngày trong nước. Khi ngâm giữ mức nước ngập trên mẫu 20mm. Sau đó nhấc mẫu ra, dùng vải ẩm lau ráo mặt ngoài rồi cân ngay. Đầu tiên cân ở cân kỹ thuật ngoài không khí (ml). Tiếp đó cân ở cân thuỷ tĩnh. Khi thực hiện việc cân thuỷ tinh mẫu thì đặt viên mẫu vào giá treo, từ từ thả giá treo cùng viên mẫu vào thuỷ bình tới mức nước ngập hết mẫu. Chờ cho nước tràn hết qua vòi tràn tiến hành lấy thăng bằng cân và ghi lại khối lượng mẫu đã cân (m2).
Cân thuỷ tĩnh trước khi cân mẫu phải được hiệu chỉnh thăng bằng cân với giá treo không có mẫu nằm ở độ sâu đúng như sau này sẽ cân mẫu. Thể tích viên mẫu (V), tính bằng cm3 được xác định theo công thức (8);
![]()
Trong đó:
rn - Khối lượng riêng của nơc, lấy bằng lg/cm3.
b. Đối với các viên mẫu có các lỗ rỗng lớn thông nhau thì không ngâm mẫu vào nước mà tiến hành sấy nóng mẫu tới khoảng 600C. Cân mẫu (ml) buộc từng viên vào sợi dây mảnh rồi nhúng từng viên vài lần vào thùng parafin đã đun chảy để tạo ra lớp bọc dày chừng lmm kín xung quanh mẫu. Các bọt khí hoặc các vết nứt trên lớp bọc parafin được chà kín bằng thanh sắt hơ nóng. Sau đó để nguội rồi cân mẫu có lớp bọc parafin (m2). Tiếp theo tiến hành cân mẫu như ở mục (a) bằng cân thuỷ tĩnh (m3).
Thể tích viên mẫu (V) khi đó, cũng tính bằng cm3 theo công thức (9).
![]()
Trong đó:
rn - Khối lượng riêng của nước, lấy bằng lg/cm3.
rp - Khối lượng riêng của parafin, lầy bằng 0,93g/cm3.
4.1 Khối lượng thể tích của từng viên mẫu J được tính bằng kg/m3 theo công thức:
![]()
Trong đó:
m - Khối lượng của viên mẫu ở trạng thái cần thử, tính bằng gam (g).
V - Thể tích của viên mẫu, tính bằng cm3.
4.2 Khối lượng thể tích của bê tông được tính bằng kg/m3 chính xác tới l0kg/m3 là trung bình số học của ba kết quả thử trên ba viên trong cùng một tổ mẫu.
Trong biên bản thử ghi rõ:
- Ký hiệu mẫu thử;
- Nơi lấy mẫu;
- Ngày lấy mẫu và ngày thử;
- Trạng thái mẫu cân thử;
- Khối lượng và thể tích của từng viên mẫu.
- Khối lượng thể tích của từng viên và khối lượng thể tích trung bình
- Chữ kí của người thử.
Xác định thể tích viên mẫu không có hình khối đúng bằng phương pháp đơn giản
Khi không có cân thuỷ tĩnh, thể tích của viên mẫu không có hình khối đúng có thể xác định bằng thùng có vòi tràn và ống đong nước (hình 3).
Cách làm như sau:
Đầu tiên cũng ngâm tới bão hoà nước hoặc bọc parafin ứng với các viên mẫu không có hoặc có nhiều các lỗ rỗng thông nhau như ở điều 3.2.2 của tiêu chuẩn này.
Đổ nước vào thùng có vòi tràn, chờ nước tràn hết thì đặt một ống đong thuỷ tinh dưới miệng vòi.
Từ từ thả mẫu vào thùng tới mức nước ngập trên mẫu. Thể tích mẫu khi đó chính là thể tích nước đã tràn qua vòi vào ống đong.

- 1 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3116:1993 về Bê tông - phương pháp xác định khối lượng thể tích
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3117:1993 về bê tông nặng - phương pháp xác định độ co
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3119:1993 về bê tông nặng - phương pháp xác định cường độ kéo khi uốn
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4202:1995 về đất xây dựng - các phương pháp xác định khối lượng thể tích trong phòng thí nghiệm
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3113:1993 về bê tông nặng - phương pháp xác định độ hút nước
- 1 Quyết định 2143/QĐ-BKHCN năm 2022 hủy bỏ Tiêu chuẩn quốc gia về Bê tông nặng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 2 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3116:1993 về Bê tông - phương pháp xác định khối lượng thể tích
- 3 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3117:1993 về bê tông nặng - phương pháp xác định độ co
- 4 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3119:1993 về bê tông nặng - phương pháp xác định cường độ kéo khi uốn
- 5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4202:1995 về đất xây dựng - các phương pháp xác định khối lượng thể tích trong phòng thí nghiệm
- 6 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3113:1993 về bê tông nặng - phương pháp xác định độ hút nước
- 7 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3105:1993 về Hỗn hợp bê tông và bê tông nặng - Lấy mẫu, chế tạo và bảo dưỡng mẫu thử
- 8 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3115:2022 về Bê tông - Phương pháp xác định khối lượng thể tích