Giới thiệu chung về Công văn 234/GSQL-TH
Công văn 234/GSQL-TH do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình kiểm tra, áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu E. Văn bản này tập trung hướng dẫn xử lý các trường hợp có sự khác biệt nhỏ, lỗi kỹ thuật hoặc các vướng mắc liên quan đến hóa đơn thương mại do bên thứ ba phát hành, giúp thống nhất quy trình thực hiện tại các chi cục hải quan địa phương.
Các nội dung hướng dẫn trọng tâm của Công văn 234/GSQL-TH
1. Xử lý các khác biệt nhỏ và lỗi kỹ thuật trên C/O mẫu E
Cục Giám sát quản lý về Hải quan hướng dẫn các đơn vị hải quan không bác bỏ C/O mẫu E đối với các lỗi kỹ thuật nhỏ không ảnh hưởng đến tính xác thực của xuất xứ hàng hóa, bao gồm:
- Các lỗi chính tả, lỗi đánh máy hoặc viết tắt trên C/O mẫu E nhưng không làm thay đổi bản chất thông tin về hàng hóa, cảng xếp dỡ, hoặc tên doanh nghiệp.
- Sự khác biệt nhỏ về trọng lượng, số lượng hoặc kích thước giữa thông tin khai báo trên C/O mẫu E và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan (như hóa đơn, vận đơn, tờ khai hải quan) trong phạm vi dung sai cho phép của ngành hàng hoặc do đặc thù đo lường.
- Việc đánh dấu (tick) bằng tay hoặc bằng máy vào các ô chỉ thị trên C/O mẫu E (ví dụ như ô "Third Party Invoicing") được chấp nhận nếu việc này rõ ràng và không có dấu hiệu tẩy xóa, giả mạo.
2. Hướng dẫn về hóa đơn do bên thứ ba phát hành (Third Party Invoicing)
Đối với trường hợp hóa đơn thương mại được phát hành bởi một bên thứ ba không nằm trong nước thành viên ACFTA, công văn đưa ra hướng dẫn cụ thể để xác định tính hợp lệ:
- C/O mẫu E được coi là hợp lệ khi có hóa đơn bên thứ ba nếu tại Ô số 13 (Third Party Invoicing) được đánh dấu chọn.
- Tên và nước của công ty phát hành hóa đơn bên thứ ba phải được ghi rõ tại Ô số 7 của C/O mẫu E.
- Số và ngày của hóa đơn bên thứ ba phải được khai báo đầy đủ tại Ô số 10 của C/O mẫu E. Trường hợp tại thời điểm cấp C/O chưa có số hóa đơn bên thứ ba thì thông tin này có thể được xử lý theo các quy định bổ sung của Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc.
3. Kiểm tra tính nhất quán của thông tin hàng hóa
Để đảm bảo hàng hóa nhập khẩu thực tế chính là hàng hóa được cấp C/O mẫu E, cơ quan hải quan cần thực hiện đối chiếu kỹ lưỡng:
- Mô tả hàng hóa trên C/O mẫu E phải phù hợp với mô tả trên tờ khai hải quan và thực tế hàng hóa nhập khẩu. Sự khác biệt về thuật ngữ thương mại và thuật ngữ kỹ thuật không phải là lý do để bác bỏ C/O nếu bản chất hàng hóa là một.
- Mã số HS (Harmonized System) ghi trên C/O mẫu E phải phù hợp với mã HS của nước nhập khẩu. Trường hợp có sự khác biệt về phân loại mã HS ở cấp độ phân nhóm hoặc chi tiết giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, cơ quan hải quan sẽ tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa để xác định xuất xứ thay vì trực tiếp bác bỏ C/O.
4. Quy trình xác minh tính xác thực của C/O mẫu E
Đối với các trường hợp có nghi ngờ hợp lý về tính hợp lệ của C/O mẫu E hoặc xuất xứ thực tế của hàng hóa, Công văn hướng dẫn thực hiện theo quy trình sau:
- Cơ quan hải quan nơi tiếp nhận hồ sơ sẽ tiến hành gửi yêu cầu xác minh đến cơ quan có thẩm quyền cấp C/O của nước xuất khẩu (thông qua Cục Giám sát quản lý về Hải quan).
- Trong thời gian chờ kết quả xác minh từ phía nước bạn, hàng hóa nhập khẩu vẫn được thông quan theo quy định nhưng doanh nghiệp phải nộp thuế theo mức thuế suất thông thường (MFN) hoặc bảo lãnh thuế, và sẽ được hoàn thuế chênh lệch sau khi có kết quả xác minh C/O hợp lệ.
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Công văn 234/GSQL-TH đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất quy trình nghiệp vụ hải quan trên toàn quốc, giảm thiểu sự chồng chéo và tùy tiện trong việc áp dụng quy định kiểm tra xuất xứ. Văn bản này giúp tháo gỡ nút thắt cho nhiều doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc sử dụng C/O mẫu E, thúc đẩy dòng chảy thương mại song phương phát triển ổn định và đúng pháp luật.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| | Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2015 |
Kính gửi: Cục Hải quan TP. Hải Phòng.
Trả lời công văn số 1823/HQHP-GSQL và công văn số 1827/HQHP-GSQL ngày 12/3/2015 của Cục Hải quan TP. Hải Phòng về vướng mắc các C/O mẫu E, Cục Giám sát quản lý về Hải quan có ý kiến như sau:
1. Đối với công văn số 1823/HQHP-GSQL ngày 12/3/2015 vướng mắc C/O mẫu E số tham chiếu E153307326710001 ngày 26/2/2015:
Qua kiểm tra và đối chiếu với mẫu chữ ký lưu tại Tổng cục Hải quan, chữ ký trên C/O mẫu E dẫn trên không có trong danh sách bộ mẫu dấu và chữ ký gốc của cơ quan và người có thẩm quyền cấp C/O mẫu E của Trung Quốc. Do đó, chữ ký trên C/O không hợp lệ và không được chấp nhận để hưởng ưu đãi. Đề nghị Cục Hải quan TP. Hải Phòng tiến hành từ chối C/O theo quy định.
2. Đối với công văn số 1823/HQHP-GSQL và công văn số 1827/HQHP-GSQL ngày 12/3/2015 về vướng mắc C/O số tham chiếu E153108100073376 ngày 20/2/2015 và C/O mẫu E số tham chiếu E154404045720002 ngày 2/2/2015:
Tổng cục Hải quan sẽ gửi văn bản yêu cầu cơ quan cấp C/O của Trung Quốc xác minh các C/O mẫu E dẫn trên và thông báo khi có kết quả xác minh.
Cục Giám sát quản lý về Hải quan thông báo để đơn vị biết./.
|
| KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn 11/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc trên C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 2 Công văn 115/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc trên C/O mẫu E và C/O mẫu D do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 3 Công văn 162/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc trên C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 4 Công văn 249/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc C/O mẫu D do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 5 Công văn 303/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 1 Công văn 11/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc trên C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 2 Công văn 115/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc trên C/O mẫu E và C/O mẫu D do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 3 Công văn 162/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc trên C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 4 Công văn 249/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc C/O mẫu D do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 5 Công văn 303/GSQL-TH năm 2015 vướng mắc C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành