Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định số 22-CP được Chính phủ ban hành năm 1996 quy định chi tiết về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương trong quản lý thuế và bảo đảm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Các hành vi vi phạm bao gồm vi phạm quy định của các Luật thuế, Pháp lệnh về thuế; quy định về lập chứng từ mua bán hàng hóa, mở và ghi sổ kế toán; và các khoản thu khác thuộc Ngân sách Nhà nước.

Xử phạt vi phạm về thủ tục đăng ký, sổ sách kế toán và hóa đơn chứng từ

Nghị định phân chia các mức xử phạt cụ thể đối với các hành vi vi phạm về thủ tục kê khai, đăng ký kinh doanh, lập và lưu trữ chứng từ, hóa đơn liên quan đến thuế:

  • Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng (có thể phạt đến 1.000.000 đồng nếu có tình tiết tăng nặng) đối với các hành vi: Kê khai đăng ký thuế chậm so với thời hạn; khai không đủ các khoản mục trong tờ khai thuế hoặc tài liệu kế toán; thực hiện không đầy đủ chế độ lập, quản lý, sử dụng hóa đơn bán hàng.
  • Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng (có thể phạt đến 10.000.000 đồng nếu có tình tiết tăng nặng) đối với các hành vi: Không xuất trình sổ sách kế toán, chứng từ theo yêu cầu; vận chuyển hàng hóa không kèm theo hồ sơ về thuế; không nộp tờ khai thuế đúng thời hạn.
  • Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (có thể phạt đến 20.000.000 đồng nếu có tình tiết tăng nặng) đối với các hành vi: Bán hàng không lập hóa đơn giao cho khách hàng; cố ý không nộp tờ khai thuế, báo cáo kế toán dù đã bị thông báo lần thứ hai; hủy bỏ chứng từ, sổ sách kế toán trước thời hạn bảo quản; sử dụng hóa đơn, biên lai không do Bộ Tài chính phát hành; làm mất hóa đơn mà không khai báo hoặc để người khác lợi dụng hóa đơn để trốn thuế.

Xử phạt hành vi khai man, trốn thuế

Đối với các hành vi khai man, trốn thuế đã được quy định tại các Luật thuế hiện hành (thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất), người vi phạm ngoài việc nộp đủ số thuế còn bị phạt tiền theo quy định của từng luật thuế đó. Đối với các loại thuế khác, mức phạt tối đa không quá 100.000.000 đồng và được áp dụng như sau:

  • Phạt tiền bằng số tiền thuế trốn (có thể phạt đến 2 lần nếu có tình tiết tăng nặng) đối với các hành vi: Kê khai không đúng căn cứ tính thuế; lập sổ sách, hóa đơn sai thực tế; để ngoài sổ sách số liệu kế toán; giả vờ tạm nghỉ kinh doanh để được miễn, giảm thuế nhưng thực tế vẫn hoạt động. Trường hợp bị phát hiện trước thời điểm quyết toán thuế thì không bị phạt trốn thuế mà bị phạt theo quy định về vi phạm thủ tục kế toán.
  • Phạt tiền bằng 2 lần số thuế trốn (có thể phạt đến 3 lần nếu có tình tiết tăng nặng) đối với các hành vi: Vận chuyển hàng hóa không có hồ sơ chứng minh đã nộp thuế; kinh doanh không kê khai đăng ký và nộp thuế; giả mạo hóa đơn, chứng từ, biên lai thuế.
  • Truy cứu trách nhiệm hình sự: Trường hợp trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn tái phạm sẽ bị chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo pháp luật hình sự.

Xử phạt vi phạm chế độ nộp thuế, nộp phạt và kiểm tra hàng hóa

Nghị định quy định nghiêm khắc đối với các hành vi cản trở hoạt động quản lý thuế và chậm trễ thực hiện nghĩa vụ tài chính:

  • Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng (tối đa đến 10.000.000 đồng nếu có tình tiết tăng nặng) đối với các hành vi: Không nhận thông báo thuế, lệnh thu, quyết định xử phạt; tổ chức được ủy nhiệm thu không thực hiện đúng trách nhiệm; nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt; dây dưa nộp thuế. Người vi phạm còn phải nộp phạt chậm nộp theo quy định của các Luật và Pháp lệnh thuế.
  • Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng (tối đa đến 10.000.000 đồng nếu có tình tiết tăng nặng) đối với hành vi không chấp hành sự kiểm tra hàng hóa trên đường vận chuyển, kiểm tra kho hàng, nguyên liệu; tự ý phá niêm phong kho hàng, máy móc, nhà xưởng do cơ quan có thẩm quyền thực hiện để cưỡng chế thuế.
  • Tịch thu tang vật, phương tiện: Áp dụng đối với hành vi vận chuyển hàng hóa không có hồ sơ chứng minh đã nộp thuế hoặc chưa được cơ quan thuế quản lý theo quy định.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế

Thẩm quyền xử phạt được phân định rõ ràng giữa các cấp trong ngành thuế và Ủy ban nhân dân:

  • Cán bộ thuế đang thi hành công vụ: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 đồng.
  • Trưởng trạm thuế, Đội trưởng đội thuế: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng.
  • Chi cục trưởng Chi cục thuế: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 2.000.000 đồng đối với các vi phạm về thủ tục, nộp thuế, kiểm tra; phạt tiền bằng số thuế trốn đối với hành vi khai man, trốn thuế; tịch thu tang vật, phương tiện có giá trị đến 10.000.000 đồng.
  • Cục trưởng Cục thuế: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 đồng đối với các vi phạm về thủ tục, nộp thuế, kiểm tra; phạt đến 3 lần số tiền thuế trốn (riêng thuế xuất nhập khẩu phạt đến 5 lần); tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng đối với các vi phạm về thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế sát sinh sau khi thống nhất ý kiến với cơ quan thuế cùng cấp.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh: Có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính dựa trên đề nghị của cơ quan thuế cùng cấp.

Biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

Nếu tổ chức, cá nhân không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau:

  • Khấu trừ một phần lương, thu nhập hoặc khấu trừ tiền từ tài khoản ngân hàng của đối tượng vi phạm.
  • Tạm giữ hàng hóa, tang vật để bảo đảm thu đủ tiền thuế, tiền phạt.
  • Kê biên tài sản có giá trị tương ứng để bán đấu giá. Đối tượng bị cưỡng chế phải chịu mọi chi phí phát sinh từ việc tổ chức cưỡng chế và bán đấu giá tài sản.
  • Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế để thực hiện các quyết định cưỡng chế này.

Thời hiệu xử phạt, khiếu nại và chế độ khen thưởng

  • Thời hiệu xử phạt: Thời hiệu chung là 2 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được phát hiện. Riêng đối với hành vi khai man, trốn thuế, thời hiệu xử phạt là 3 năm. Nếu cố tình trốn tránh hoặc cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu này.
  • Khiếu nại, tố cáo: Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995.
  • Chế độ khen thưởng: Tổ chức, cá nhân có công phát hiện hành vi khai man, trốn thuế được trích thưởng trên số tiền thuế trốn thu hồi được: trích 2% đối với khu vực kinh tế quốc doanh và 5% đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Số tiền còn lại sau khi trích thưởng phải nộp toàn bộ vào Ngân sách Nhà nước.

Hiệu lực thi hành

Nghị định 22-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 5 năm 1996. Nghị định này bãi bỏ Nghị định số 01/CP ngày 18 tháng 10 năm 1992 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế. Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này.

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 22-CP

Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 1996

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 22-CP NGÀY 17 THÁNG 4 NĂM 1996 VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ các Luật thuế, Pháp lệnh về thuế và quy định về các khoản thu Ngân sách Nhà nước hiện hành;
Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1:

HÀNH VI VI PHẠM VÀ HÌNH THỨC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ

Điều 1.- Những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế nói trong Nghị định này là những hành vi vi phạm những quy định của các Luật thuế, Pháp lệnh về thuế; những quy định về lập chứng từ mua bán hàng hoá, mở và ghi sổ kế toán; những quy định về các khoản thu khác của Ngân sách Nhà nước hiện hành thuộc diện bị xử phạt hành chính, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 2.- Mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm những quy định về thủ tục kê khai đăng ký kinh doanh, mở sổ sách kế toán, lập, sử dụng và lưu giữ chứng từ, hoá đơn liên quan đến việc tính thuế, nộp thuế:

1- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 20.000 (hai mươi nghìn) đồng đến 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nếu có tình tiết tăng nặng có thể bị phạt đến 1.000.000 (một triệu) đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Kê khai đăng ký về thuế với cơ quan thuế chậm so với thời hạn quy định;

b) Khai không đủ các khoản mục quy định trong các tờ khai nộp thuế hay trong tài liệu kế toán để cung cấp cho cơ quan thuế;

c) Thực hiện không đầy đủ chế độ lập, quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng theo quy định của Nhà nước.

2- Phạt tiền từ 100.000 (một trăm nghìn) đồng đến 1.000.000 (một triệu) đồng, nếu có tình tiết tăng nặng có thể phạt đến 10.000.000 (mười triệu) đồng đối với một trong các vi phạm sau:

a) Không xuất trình sổ sách kế toán, chứng từ theo yêu cầu của cơ quan thuế;

b) Vận chuyển hàng hoá không kèm theo các hồ sơ về thuế theo quy định của pháp luật về thuế;

c) Không nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế trong thời hạn quy định.

3- Phạt tiền từ 1.00.000 (một triệu) đồng đến 10.000.000 (mười triệu) đồng, nếu có tình tiết tăng nặng có thể phạt đến 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Bán hàng không lập hoá đơn để giao cho khách hàng theo đúng quy định của Nhà nước;

b) Cơ quan thuế đã thông báo đến lần thứ hai, nhưng vẫn cố ý không nộp các tờ khai thuế, báo cáo kế toán và các giấy tờ khác cho cơ quan thuế theo quy định của pháp luật;

c) Huỷ bỏ chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán khi chưa hết thời hạn bảo quản và lưu giữ theo quy định của Nhà nước;

d) Sử dụng các loại hoá đơn, biên lai không phải do Bộ Tài chính phát hành hoặc không cho phép sử dụng;

e) Làm mất hoá đơn mà không khai báo kịp thời với cơ quan có trách nhiệm hoặc để người khác lợi dụng hoá đơn của mình để làm ăn phi pháp, trốn lậu thuế.

Điều 3.- Mức xử phạt đối với những hành vi khai man, trốn thuế:

Tổ chức, cá nhân có hành vi khai man, trốn thuế đã được quy định tại Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất, ngoài việc phải nộp đủ số thuế theo quy định còn bị phạt tiền theo quy định của từng luật thuế đó.

Ngoài các hành vi khai man, trốn thuế bị xử phạt hành chính theo quy định của các luật thuế, tổ chức, cá nhân có hành vi khai man, trốn các loại thuế khác phải nộp đủ tiền thuế theo quy định của pháp luật, còn bị xử phạt theo các mức sau đây, nhưng mức phạt tối đa không quá 100.000.000 (một trăm triệu) đồng:

1- Phạt tiền bằng số tiền thuế trốn, nếu có tình tiết tăng nặng có thể phạt đến 2 lần số tiền thuế trốn đối với các vi phạm sau:

a) Kê khai không đúng căn cứ tính thuế theo quy định của từng sắc thuế;

b) Lập sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ sai với thực tế sản xuất, kinh doanh;

c) Để ngoài sổ sách số liệu kế toán hoặc hạch toán không đúng theo quy định của chế độ kế toán hiện hành;

d) Xin tạm nghỉ kinh doanh để được giảm, miễn thuế nhưng thực tế vẫn hoạt động kinh doanh.

Trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm các điểm a, b, c mục 1 Điều này, nếu bị phát hiện trước thời điểm quy định phải quyết toán thuế hoặc phải nộp đủ thuế thì không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà bị phạt theo mức quy định tại khoản 2 Điều 2 của Nghị định này.

2- Phạt tiền bằng 2 lần số thuế trốn, nếu có tình tiết tăng nặng có thể bị phạt 3 lần số thuế trốn đối với một trong các trường hợp vi phạm sau:

a) Hàng hoá vận chuyển không có đầy đủ hồ sơ chứng minh hàng đã nộp thuế hoặc đã được cơ quan thuế quản lý theo đúng quy định của pháp luật;

b) Kinh doanh mà không kê khai đăng ký thuế và không kê khai nộp thuế với cơ quan thuế;

c) Giả mạo hoá đơn bán hàng, chứng từ thu tiền, biên lai thuế và các chứng từ khác liên quan đến việc tính thuế.

3- Trường hợp trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn lậu thuế nếu còn tái phạm thì cơ quan thuế chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan xử lý hình sự có thẩm quyền giải quyết.

Điều 4.- Mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm chế độ nộp tiền thuế, tiền phạt:

1- Phạt tiền từ 100.000 (một trăm nghìn) đồng đến 1.000.000 (một triệu) đồng, nếu có tình tiết tăng nặng có thể phạt đến 10.000.000 (mười triệu) đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không chịu nhận thông báo thu thuế, lệnh thu, lệnh phạt, quyết định xử phạt vi phạm về thuế;

b) Những tổ chức được uỷ nhiệm thu, nhưng không thực hiện đúng trách nhiệm theo quy định của pháp luật;

c) Nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt ghi trong thông báo nộp thuế hoặc ghi trong quyết định xử phạt của cơ quan thuế;

d) Dây dưa nộp thuế, nộp phạt.

2- Tổ chức, cá nhân vi phạm chế độ nộp tiền thuế, tiền phạt ngoài việc bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1, Điều này còn phải nộp phạt số tiền chậm nộp theo quy định của các Luật thuế và Pháp lệnh thuế.

Điều 5.- Mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm chế độ kiểm tra hàng hoá, niêm phong hàng hoá:

Phạt tiền từ 100.000 (một trăm nghìn) đồng đến 1.000.000 (một triệu) đồng, nếu có tình tiết tăng nặng có thể bị phạt đến 10.000.000 (mười triệu) đồng đối với các hành vi vi phạm sau:

a) Không chấp hành sự kiểm tra của cơ quan thuế đối với hàng hoá đang trên đường vận chuyển, kiểm tra kho hàng hoá, nguyên liệu tại nơi sản xuất, kinh doanh;

b) Tự ý phá niệm phong kho hàng, kho nguyên liệu, máy móc, nhà xưởng trong thời hạn niêm phong do cơ quan có thẩm quyền niêm phong để áp dụng biện pháp cưỡng chế thu tiền thuế và tiền phạt.

Điều 6.- Quy định về việc tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế:

Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại điểm a, mục 2, Điều 3 của Nghị định này có thể bị tịch thu tiền, hàng hoá, tang vật, phương tiện có liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm.

Phạt tịch thu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm chỉ được thực hiện đối với những loại hàng hoá, tang vật, phương tiện mà pháp luật quy định cho phép tịch thu.

Chương 2:

THẨM QUYỀN, THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ

Điều 7.- Thẩm quyền xử phạt của cơ quan thuế:

1- Cán bộ thuế đang thi hành công vụ được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 (một trăm nghìn) đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế trên địa bàn quản lý của mình.

Trưởng trạm thuế, đội trưởng đội thuế được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 (hai trăm nghìn) đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế trên địa bàn quản lý của mình.

2- Chi cục trưởng Chi cục thuế được quyền:

- Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 2.000.000 (hai triệu) đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế quy định tại các Điều 2, 4, 5 của Nghị định này trên địa bàn quản lý của mình.

Phạt tiền bằng số tiền thuế trốn đối với các hành vi khai man, trốn thuế quy định tại Điều 3 của Nghị định này.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế giá trị đến 10.000.000 (mười triệu) đồng theo quy định tại Điều 6 của Nghị định này.

3- Cục trưởng Cục thuế được quyền:

- Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trên địa bàn quản lý của mình trong lĩnh vực thuế quy định tại các Điều 2, 4 và 5 của Nghị định này.

- Phạt đến 3 lần số tiền thuế trốn đối với các hành vi man khai, trốn thuế quy định tại Điều 3 của Nghị định này; riêng đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phạt tiền đến 5 lần số tiền thuế trốn lậu.

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.

Chi cục trưởng Chi cục thuế, Cục trưởng Cục thuế được quyền ra quyết định xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.

Điều 8.- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế của Uỷ ban nhân dân các cấp:

1- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 (hai trăm nghìn) đồng đối với các hành vi vi phạm về thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà, đất, thuế sát sinh trên địa bàn quản lý của mình, sau khi đã có ý kiến thống nhất của cơ quan thuế cùng cấp.

2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, thị xã, huyện, thành phố thuộc tỉnh và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền xử phạt vi phạm được quy định tại Điều 27, Điều 28 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế theo đề nghị của cơ quan thuế cùng cấp.

Điều 9.- Việc phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế được quy định như sau:

Nếu hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế nhưng thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan thì việc xử phạt do cơ quan thụ lý đầu tiên thực hiện theo quy định của Nghị định này, sau khi đã có ý kiến thống nhất của cơ quan thuế cùng cấp.

Điều 10.- Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế phải thực hiện theo đúng các quy định tại các điều của Chương VI Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995.

Điều 11.- Việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế được quy định như sau:

1- Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính mà không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thuế có quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thuế bằng các biện pháp sau đây:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng. Tổ chức, cá nhân chi trả hoặc ngân hàng nơi tổ chức, cá nhân bị xử phạt mở tài khoản có trách nhiệm thực hiện quyết định cưỡng chế của cơ quan thuế;

b) Tạm giữ hàng hoá, tang vật để bảo đảm thu đủ tiền thuế, tiền phạt;

c) Kê biên phần tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt, tiền thuế để bán đấu giá.

2- Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có nhiệm vụ tổ chức việc cưỡng chế kê biên tài sản để bán đấu giá bảo đảm thu đủ tiền thuế, tiền phạt. Việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế được áp dụng theo Điều 52 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

3- Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm thi hành quyết định cưỡng chế của Uỷ ban nhân dân cùng cấp phải phối hợp với cơ quan thuế để thực hiện quyết định cưỡng chế của cơ quan thuế.

4- Tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế phải chịu mọi chi phí về việc tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế và tổ chức bán giá.

Điều 12.- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế là 2 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được phát hiện; trong thời hiệu xử phạt, nếu cá nhân, tổ chức có vi phạm mới hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu trên. Riêng hành vi khai man, trốn thuế quy định tại Điều 3 của Nghị định này thì thời hiệu xử phạt là 3 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được phát hiện.

Chương 3:

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 13.- Quy định về khiếu nại tố cáo:

Khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế và thủ tục giải quyết tố cáo vi phạm trong lĩnh vực thuế được thực hiện theo các Điều 87, 88, 90 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995.

Điều 14.- Quy định về xử lý vi phạm:

Xử phạt vi phạm đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế và xử phạt vi phạm đối với người vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế thực hiện theo đúng các Điều 91, 92 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995.

Điều 15.- Quy định về khen thưởng đãi ngộ đối với việc phát hiện, xử lý vi phạm: tổ chức, cá nhân có công phát hiện các hành vi khai man, trốn thuế, được trích thưởng trên số tiền thuế trốn đã phát hiện được sau khi quyết định xử phạt hoặc quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành. Mức trích thưởng được thực hiện như sau:

- 2% (hai phần trăm) đối với vụ việc phát hiện trốn thuế trong khu vực kinh tế quốc doanh.

- 5% (năm phần trăm) đối với vụ việc phát hiện trốn thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục trích thưởng và nguyên tắc phân phối sử dụng khoản tiền thưởng nêu trên.

Số tiền thuế trốn lậu còn lại sau khi đã trích thưởng phải nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước.

Chương 4:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 16.- Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 5 năm 1996. Bãi bỏ Nghị định số 01/CP ngày 18 tháng 10 năm 1992 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.

Điều 17.- Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Phan Văn Khải

(Đã ký)

Văn bản liên quan cùng nội dung
Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 22-CP năm 1996 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế

Số hiệu: 22-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 17/04/1996
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 31/07/1996
Số công báo: Số 14
Ngày hiệu lực: 01/05/1996
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 22-CP năm 1996 về việc xử phạt vi p...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký